preload preload preload preload

Thứ Hai, ngày 30 tháng 11 năm 2009

Quan điểm tự do của M. GORKI

Họ và tên : Hoàng Thị Mận


Lớp : BK56



BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN MÔN VĂN HỌC NGA



Đề bài : Quan niệm tự do của M.Gorki

Bài làm



Trong cuộc sống này, tự do chứ không phải bất cứ điều gì khác, chính là thứ mà con người ta cần nhất, trân trọng nhất. Nó còn đáng quý hơn rất nhiều lần sự giàu sang, địa vị, tình yêu. Chính vì vậy, để đổi lấy tự do, biết bao dân tộc trên thế giới đã phải đổ máu, hi sinh ; để thể hiện khao khát tự do biết bao nhà văn đã viết nên những trang văn có giá trị. M.Gorki là một trong số những nhà văn như thế. Bằng các tác phẩm của mình, Gorki đã trình bày một quan niệm về tự do rất riêng, rất mới mẻ.

Bất cứ ai trên đất nước Việt Nam này có lẽ cũng đều biết đến câu nói bất hủ của chủ tịch Hồ Chí Minh :“ Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là chân lý! Nhưng chân lý ấy không phải chỉ đúng với một quốc gia, một dân tộc mà còn là chân lý chung cho cả loài người. Tự do giúp cho con người “ sống” chứ không phải “ tồn tại”. Mặc dù ai cũng biết rằng tự do vốn rất mơ hồ, nó không được hiện hình thành vật chất như cơm gạo, tiền bạc nhưng có thể nó lại chính là điều mà cả đời con người kiếm tìm, phấn đấu. Đề tài tự do, vì thế đã trở thành mảng đề tài rộng lớn, xuyên suốt văn học của mọi quốc gia. Nổi bật lên trong mảng văn học này là những sáng tác của M.Gorki.

Trước hết, Gorki cho rằng : Tự do là thứ quý giá nhất trong cuộc đời con người. Ông đề cao giá trị của tự do, xếp tự do lên trên cả tình yêu, trên cả sự sống. Quan niệm này đã thể hiện ý thức sâu sắc của Gorki về cuộc sống đích thực. Trong truyện ngắn “ Maka Sudra” ( 1892), tác giả đã để cho nhân vật đứng trước sự lựa chọn giữa một bên là tình yêu đôi lứa và một bên là tình yêu tự do; một bên là sự sống và một bên là cái chết. Nhân vật trung tâm trong truyện là Lôi kô và Rát da. Lôi kô – chàng trai Sưgan vừa đẹp đẽ vừa gan dạ, kiêu hùng. Với tiếng đàn và giọng hát tuyệt diệu của mình, chàng đã làm xiêu lòng biết bao cô gái. Nhưng kỳ lạ thay, đối với chàng, việc “ đùa giỡn với con gái cũng chẳng khác nào chim Ưng đùa giỡn với bầy vịt”. Chàng hài lòng với cuộc sống tự do của mình, cuộc sống được cất cao tiếng hát giữa thảo nguyên. Còn Rát da là một cô gái nổi tiếng kiêu hãnh, xinh đẹp, một cô gái chỉ cần “ nháy mắt một cái, họ (các chàng trai) có thể cạo trụi ria đi”, chỉ cần cô muốn thì tất cả bọn họ sẽ quỳ xuống chân cô. Nhưng cũng như Lôi kô, Rát da chưa từng yêu ai bao giờ bởi vì trong mắt cô, sự phục tùng của các chàng trai là việc làm tầm thường. Cả hai con người ấy đều coi thường sự yếu hèn, luồn cúi, nô lệ. Họ yêu tự do tha thiết. Gặp Lôi kô - một chàng trai gan dạ, Rát da kiêu hãnh đã phải thú nhận với Lôi kô rằng : “ Tôi chưa yêu ai bao giờ, Lôi kô, tôi chỉ yêu anh.” Rát da yêu Lôi kô vì chàng kiêu hùng, luôn ngẩng cao đầu. Còn Lôi kô, trước sự kiêu hãnh của Rát da cũng đã phải thừa nhận : “ Bọn con gái các cô, tôi biết khối ra rồi! Nhưng chưa có cô nào khích động được lòng tôi như cô, Rát da ạ. cô đã thu phục được tâm hồn tôi”. Giữa hai con người “ đều đẹp đẽ, gan dạ như nhau” ấy đã nảy sinh một tình yêu thực sự. Nhưng tình yêu ấy liệu sẽ có chỗ đứng như thế nào bên cạnh tình yêu tự do vốn đã như ngọn lửa rực cháy trong họ lâu nay ? Lôi kô đã tuyên bố trước mặt mọi người : “ Tôi lấy cô làm vợ, trước Thượng đế, trước danh dự tôi, trước cha cô và trước mọi người. Nhưng hãy nhớ lấy : đừng có buộc tự do của tôi, tôi muốn sống ra sao, tôi sẽ sống như thế!”. Còn Rát da thì ngay trong lúc bày tỏ tình cảm với Lôi kô cũng đã nói : “ Tôi chỉ yêu anh. Nhưng tôi còn yêu tự do nữa! Tự do thì tôi yêu hơn cả anh.” Mặc dù đều có tình yêu mãnh liệt nhưng cả hai con người ấy đều không thể vì tình yêu mà nhượng bộ hoặc đầu hàng lý tưởng tự do của mình. Với họ, tự do là lẽ sống. Bởi thế, trước lời thách thức của Rát da : “ Ngày mai, anh phải quy phục tôi như quy phục người huynh trưởng của anh trong trại”, Lôi kô đã phải đứng trước sự lựa chọn tình yêu và tự do. Sự lựa chọn đó vô cùng nghiệt ngã. “ đã giày vò chàng trai, khiến chàng “ loạng choạng như một thân cây bị gió xô gẫy, rồi ngã vật xuống đất, vừa cười vừa khóc nấc lên “. Cuối cùng, Lôi kô đã quyết định đâm con dao quắm vào ngực Rát da. Rát da chết. Nhưng trước khi chết, nàng vẫn mỉm cười, nói to, giọng rành rọt : “ Vĩnh biệt Lôi kô ! Em đã biết trước anh sẽ là như vậy”. Có lẽ, đối với Rát da, nàng mãn nguyện với cái chết của mình. Nó chứng tỏ nàng không yêu nhầm người, chứng tỏ Lôi kô không phải là kẻ dễ dàng quy phục. Đó mới là điều Rát da cần. Còn Lôi kô, dù vô cùng đau khổ khi phải giết người mình yêu nhưng chàng hiểu rằng tự do còn đáng quý hơn rất nhiều tình yêu nô lệ. Cuối cùng, cha Rát da đã giúp chàng giải thoát, linh hồn chàng đã bay đến với tình yêu của Rát da.

Câu chuyện nếu mới chỉ nhìn qua thì giống như một bi kịch tình yêu nhưng thực chất, nó là câu chuyện về một cách sống – cách sống tự do. Lôi kô, Rát da có tình yêu tự do vô cùng mãnh liệt. Họ không thể đánh đổi tự do bằng bất cứ giá nào, dù đó là tình yêu. Viết trang truyện này, nhà văn không nhằm hạ thấp giá trị của tình yêu. Bởi lẽ tình yêu của hai nhân vật là tình yêu xuất phát từ sự đồng cảm trong lý tưởng sống, lý tưởng về tự do. Bởi vậy một trong hai người phải quỳ gối, phải nô lệ thì cũng có nghĩa rằng tình yêu không còn. Như vậy lý tưởng tự do vừa là nhân tố nảy sinh tình yêu vừa là thước đo tình yêu. Kết thúc tác phẩm, hai nhân vật phải chết nhưng đó là cách họ vừa có tình yêu, vừa có sự tự do. Thông qua đây, M.Gorki đã đề cao và khẳng định giá trị cao quí đến tuyệt đối của tự do trong cuộc đời con người. Đó là quan niệm rất nhân bản.

Với các trang viết của mình, Gorki không chỉ kêu gọi vươn tới cuộc sống tự do. Với truyện ngắn “ Bà lão Izecghin”, Gorki đã giúp bạn đọc trả lời câu hỏi : sống tự do là sống như thế nào?

Truyện ngắn có kết cấu gồm ba phần được kể qua lời bà lão Izecghin. Phần đầu tác phẩm kể về truyền thuyết Lara – kẻ bị ruồng bỏ và xua đuổi. Lara là hiện thân cho kiểu người có lối sống cô lập, ích kỷ và kiêu ngạo. Vì tội giết người, Lara phải nhận sự trừng phạt đích đáng của cộng đồng : bị bộ tộc ruồng bỏ, sống đơn độc một mình trong nhiều năm. Bản thân là một con người mà phải sống phóng túng như một con chim, gã rơi vào bi kịch khi bị tách khỏi cuộc sống loài người. Đến khi Lara chán ngán cuộc sống tự do đơn độc, hắn muốn chết để kết thúc mọi bi kịch nhưng cái chết vẫn không đến với hắn. Cuối cùng, “hắn vẫn phải sống cô độc một mình, tự do và chờ đợi cái chết đến với nó…Nó không có cuộc sống, cái chết cũng không rước nó đi. Nó không có chỗ dung thân giữa mọi người”. Mượn truyền thuyết về Lara, Gorki đã đưa ra một lối sống tự do tiêu cực: tự do trong đơn độc. Rõ ràng Lara hoàn toàn được tự do, tự do đến mức tuyệt đối, “ khi cần, gã đến các bộ lạc và cuỗm lấy gia súc, bắt các cô gái, cướp tất cả những gì gã muốn lấy”. Nhưng tự do của Lara thực chất là sự trả giá cho thói ích kỷ, kiêu ngạo. Hắn được tự do nhưng lại không được làm con người. Tự do lúc này đồng nghĩa với cô đơn, tự do còn đáng sợ hơn cả cái chết. Vì vậy, nó mới được coi là hình phạt đích đáng nhất đối với một người như Lara. Truyền thuyết về Lara như một hình thức phản đề để tác giả khẳng định : sống tự do không phải là cách sống cho riêng mình, tách biệt với cộng đồng.

Phần hai của tác phẩm kể về câu chuyện tình yêu của chính bà lão Izéghin. Bà đã sống một cuộc sống phóng túng, sôi nổi, bắt đầu hành trình tình yêu của mình ngay từ khi mới 15 tuổi. Trong cuộc đời mình, bà lão đã đi khắp nơi, gặp gỡ và yêu không biết bao nhiêu người. Đối với người nào, bà cũng có một tình yêu tha thiết, mạnh mẽ. Đó là một anh chàng Gũun, một anh thuyền chài xứ Prut, lão ìa Thổ Nhĩ Kỳ, cậu bé con trai gã, anh chàng Ba Lan….vv. Những con người ấy đều trở thành cái bong nhợt nhạt bên cạnh một người luôn rực lửa tình yêu là bà. Khi kể về quá khứ của mình, bà lão Izécghin luôn tự hào vì mình đã biết cách sống, biết lập nên những kỳ tích phi thường mà không tiêu phí cả cuộc đời. Có thể nói, hình tượng bà lão Izécghin là một hình tượng độc đáo và hấp dẫn. Điều đáng quý nhất ở bà là cách sống mạnh mẽ , khát vọng sống phi thường, sống tự do theo tiếng gọi của trái tim. Nhưng nhìn một cách khách quan hơn thì những chuyện tình của bà lại giống một cuộc phiêu lưu tình cảm. Bà tưởng rằng mình đã không tiêu phí cả cuộc đời nhưng thực ra để chạy theo tình yêu, bà đã tiêu phí cả tuổi trẻ - một quãng đời có thể làm nhiều điều có ích. Bởi vậy, nhân vật bà lão Izécghin cũng chưa phải là tiếng nói về tự do của Gorki. Gorki không tán đồng với lối sống của bà.

Phần ba của truyện , phần kể về người anh hung Đan kô mới chính là điểm hội tụ cho quan niệm tự do của M. Gorki. Đan kô là người anh hung, gan dạ , dám ngẩng cao đầu tiến theo tiếng ọi của tự do. Giữa lúc bộ lạc đang gặp khó khăn: “ Bọn họ đã định nộp mình cho quân thù và dâng tự do của mình cho chúng. Vì kinh hoàng trước cái chết, không ai còn sợ nô lệ nữa” thì Đan kô đã xuất hiện và dẫn mọi người tiến bước. Chàng không đầu hàng hoàn cảnh, không chịu làm nô lệ. Với chàng muốn có tự do thì phải bắt tay vào hành động để tự mình tìm kiếm tự do cho mình : “ Nghĩ ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta đi.. Ta đi đi ! Nào! Tiến bước”.

Khi một số người trong bộ lạc tỏ ra giận dữ, oán trách anh, Đan kô đã xé toang lồng ngực, rứt trái tim giơ cao , trái tim biến thành ngọn lửa dẫn đường cho bộ lạc đến với mảnh đất tự do. Đó là hành động dũng cảm và cao thượng xuất phát từ lòng yêu thương con người cũng như khát khao tự do. Để đổi lấy tự do cho cộng đồng, Đan kô có thể chấp nhận cả cái chết một cách mãn nguyện. Bởi vậy, trước khi chết “ chàng Đan kô can truuwongf và kiêu hãnh đưa mắt nhìn thảo nguyên bao la trước mặt, sung sướng nhìn khoảng đất tự do và bật lên tiếng cười tự hào”. Nếu như bà lão Izécghin cho rằng con người sống trong cuộc đời phải lập nên những kỳ tích và nhưungx chiến công vĩ đại thì với hành động của mình, Đan kô đã lập nên chiến công vĩ đại ấy. Và cách sống của Đan kô mới chính là lối sống tự do chân chính

Thông qua truyện ngắn “ Bà lão Izécghin”, Gorki đã đưa ra ba lối sống và đặt chúng trong thế đối sánh. Từ đó Gorki đã thể hiện quan niệm tự do của mình. Với ông, tự do không phải là sống cho riêng mình, cũng không phải là lãng phí cuộc đời mà sống tự do là sống bằng hành động phi thường , cao cả, vì mọi người và không đầu hàng cuộc sống nô lệ cho dù phải chết. Đây là một quan niệm rất tích cực.

Bên cạnh mảng truyện ngắn lãng mạn, trong thời kỳ đầu, M.Gorki còn viết nhiều tác phẩm hiện thực xuất sắc.Những tá phẩm này đã khiến công chúng coi Gorki là nhà văn của những người cùng khổ, nhà văn của những người chân đất trong xã hội Nga lúc bấy giờ. Bởi vậy, hiện lên trên trang truyện của ông giai đoạn này là gương mặt của nhưungx con người dưới đáy xã hôi, mỗi người một nỗi khổ riêng. Nhưng ở họ có một điểm sáng đáng quý, đó là tình yêu và lòng khao khát tự do. Họ không phải là những kẻ cam chịu, nhẫn nhục. Ngược lại họ sống trong gian khổ mà vẫn trăn trở, suy nghĩ về số phận mình, cuộc đời mình. Nhận thức sâu sắc cuộc sống nô lệ cầm tù nên họ cũng tỏ ra căm ghét tột cùng cuộc sống “ thiếu ánh sáng măt trời”.( Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái). Cuộc sống chật chội, thiếu tự do trong hầm tối cũng chính là nguyên nhân cuộc hôn nhân đổ vỡ của vọ chồng Orlop. Họ sống mà như đã chết dần, chết mòn. Với Gorki, chính nhưungx con người dưới đáy xã hội, phải nếm trải cuộc sống mất tự do mới chính là những người thấy tự do đáng quý. Trong truyện ngắn “ Làm muối” và “ Konovanop”, những đoàn người làm muối sống “kiếp đọa đầy” luôn hướng tới tự do bởi trong quan niệm của họ “ thà đói khổ nhưng tự do còn hơn”.

Trong truyện ngắn “ Sen kát”, Gorki đã xây dựng hai hình tượng đối lập: Sen kát và Gavrila. Sen kát là “ một tên ăn cắp, một kẻ du đãng” với những mánh khóe già đời còn Garvila là một nông dân chính giáo, một con người lương thiện có những khao khát chính đáng về một cuộc sống bình dị. Nhưng hai con người ấy khi được đặt trước sự lựa chọn tiền bạc thì hai vị trí lại hoàn toàn bị hoán đổi. Sen kát dù là một kẻ du thủ du thực nhưng vẫn sống tự do, tự chủ. Anh tỏ ra là một kẻ anh hung, hào hiệp khi tha thứ và cho Garvila số tiền. Hành động ấy là hành động con người cao thượng, nó giúp anh có lúc thấy “ ý thức tự do tràn ngập trong người”. Còn Garvila – một người nông dân chính giáo, nhưng trong bản chất lại là nô lệ của tiền bạc. Vì tiền, hắn có thể quỳ gối “ thì thầm van vỉ “, có thể “ gào rú sung sướng, khuôn mặt hớn hở vui sướng đến méo xệch đi vì lòng tham được thỏa mãn” và thậm chí hắn có thể làm tội ác ( đánh Sen kát). Với truyện ngắn này, Gorki đã đưa ra một quan niệm rất rộng về tự do. Tự do của Sen kát là tự do trong tâm hồn chứ không đơn giản chỉ là sự tự do về mặt thể xác. Còn Garvila, dù được tự do hoàn toàn về thể xác nhưng lại là nô lệ của đồng tiền. Do đó cuộc sống của Garvila cũng vẫn là cuộc sống nô lệ. Người ta chỉ tự do khi tự chủ, làm chủ bản thân mình.

Với các truyện ngắn thời kì sau như “ Bài ca chim ưng”, “ Bài ca chim báo bão”… Gorki tiếp tục phát triển quan niệm tự do của mình. Qua hình tượn chim ưng và chim báo bão, tác giả đã khẳng định: tự do chính là đấu tranh. Chỉ khi đấu tranh, sống có khát vọng và lý tưởng cao đẹp thì con người mới có được cuộc sống tự do của mình. Đến đây, quan niệm tự do của Gorki đã gắn với tinh thần Cách mạng, tinh thần đấu tranh.

Như vậy, thông qua các truyện ngắn, Gorki đã thể hiện rất rõ nét quan niệm tự do của mình. Với ông, tự do là thứ quý giá nhất, là lẽ sống. Nhưng sống tự do là phải sống bằng những hành động cao cả, phi thường, có ý nghĩa. Và sự tự do không đơn giản chỉ là sự giải phóng khỏi những ràng buộc về thể xác mà nó còn là sự tự do trong tinh thần. Muốn có được tự do ấy,con người không còn cách gì khác, phải biết đấu tranh mạnh mẽ. Những trang viết đó cũng chính là tiếng nói từ chính tâm hồn Gorki. Suốt cuộc đời mình, hai tiếng tự do cũng chính là mục đích để ông phấn đấu. Gorki xứng đáng là nhà văn lớn của dân tộc Nga và của thế giới.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét