preload preload preload preload

Thứ Hai, ngày 30 tháng 11 năm 2009

Điểm nhìn trần thuật trong " Khách ở quê ra"

Họ và tên : Hoàng Thị Mận


Lớp : BK56



BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN MÔN PHONG CÁCH HỌC



Đề bài : Phân tích truyện ngắn “ Khách ở quê ra” của Nguyễn Minh Châu để làm rõ phương thức kể chuyện theo điểm nhìn bên trong



BÀI LÀM



1. Các nhân tố của điểm nhìn bên trong

a> Người tiêu điểm hóa

- Trong truyện ngắn “ Khách ở quê ra”, người tiêu điểm hóa chính là Khúng, Định, mụ Huệ. Đó là những người trong cuộc hoặc có quan hệ mật thiết với người trong cuộc. Bởi vậy, người tiêu điểm hóa ở đây có cái nhìn thấu suốt thế giới bên trong, thế giới nội tâm của nhân vật.

b> Đối tượng được nhìn ( Người được tiêu điểm hóa)

- Ở đây, người được tiêu điểm hóa cũng chính là lão Khúng , Định, mụ Huệ. Ba nhân vật này được khắc họa với một thế giới nội tâm phong phú, những tâm trạng và tình cảm phức tạp.

+> Lão Khúng: Một nông dân với quãng đời nhiều thăng trầm, gắn bó sâu nặng với đất quê, yêu thương con cái. Đối với đứa con riêng của mụ Huệ là thằng Dũng, lão vừa yêu thương vừa tự hào nhưng cũng vừa đau khổ, lo lắng, dằn vặt vì nó mang một dòng máu xa lạ với nó. Lão vinh dự vì nó vào bộ đội nhưng cũng vô cùng lo lắng vì sợ mất nó.

+> Định là một ông chú với những cảm nhận rất tinh tế nhưng cũng rất phức tạp về lão Khúng - người cháu đích tôn trong dòng họ mình. Định ái ngại trước sự liều lĩnh của cháu, khâm phục nghị lực của cháu và đồng thời cũng trân trọng, biết ơn vì người cháu ấy đã thay mình gìn giữ phần mộ tổ tiên.

+> Mụ Huệ : Là một nữ sinh thành phố với khao khát tình yêu và sự nhạy cảm nhưng đồng thời cũng lại là một “ bà ké miền rừng” với sự gắn bó sâu nặng với công việc, với gia đình.

c> Người phát ngôn

Ở đây người phát ngôn là người kể chuyện hàm ẩn, kể theo điểm nhìn của người tiêu điểm hóa và cũng là người được tiêu điểm hóa. Như vậy, Khúng, mụ Huệ và Định cũng chính là những người phát ngôn. Họ là người trong cuộc có thể kể về mình hoặc nói những điều mình biết về những người thân. (Định kể về lão Khúng, lão Khúng kể về mình và mụ Huệ….vv)

d> Tiêu điểm

Tiêu điểm của truyện ngắn “Khách ở quê ra” chính là thế giới nội tâm vô cùng phong phú của các nhân vật Định, lão Khúng, mụ Huệ, trong đó nhân vật trung tâm của tác phẩm là lão Khúng. Câu chuyện là một chuỗi những tâm trạng khác nhau của nhân vật ở những thời điểm khác nhau. Truyện do đó cũng ít sự kiện, ít nhân vật. Ở đây chỉ có ba nhân vật chính là: Định, lão Khúng, mụ Huệ. Ngoài ra có Dũng, Mới, lão Chắt Hòe, Th và một vài nhân vật chỉ được nhắc tên. Câu chuyện xoay quanh các sự kiện sau :

<1> Trước khi lão Khúng đưa thằng Dũng đi bộ đội : lão Khúng lấy mụ Huệ , đi khai hoang và sinh con đẻ cái.( Qúa khứ)

<2> Những ngày lão ở Hà Nội: tiễn con, đến ở nhà Định, đi chợ và ra phố một mình.( Hiện tại )

- Người phát ngôn ở đây khi quan sát kể lại câu chuyện thường rất hay dừng lại để liên tưởng, so sánh, lí giải những gì mình quan sát được.



Ví dụ:

“ Định phì cười:

- Làm gì cậu đã có vợ mà ốm?

- Có, có….chú đi bộ đội cháu không biết ở đâu cho nên cháu không báo cáo với chú được đó thôi

….. Người cháu dâu vừa thoạt nhìn Định đã thấy chẳng có gì ăn nhập với Khúng, cũng y như cái nền ngôi đền linh thiêng trên đó hắn vừa cất lên túp lều của hắn. giữa hai con người có một cái gì quá đỗi khập khiễng, ai mà tin được có thể là hai vợ chồng, khi người vợ như một nữ sinh thành phố đứng bên cạnh Khúng. Chả khác một chiếc cốc pha lê bày trên một chiếc cối giã cua.”

Trong đoạn văn này, đứng trước người vợ mà lão Khúng vừa giới thiệu, Định đã nhận ra ngay sự vênh lệch khác thường trong mối quan hệ vợ chồng này: Định thấy : “ giữa hai người có một cái gì quá đỗi khập khiễng, ai mà tin được có thể là hai vợ chồng” để hé lộ cho người đọc thấy sự kết hợp giữa Khúng – mụ Huệ không phải là sự kết hợp tự nhiên như cách nói của lão.

e> Mối quan hệ giữa người tiêu điểm hóa – người được tiêu điểm hóa – nhân vật và người kể chuyện.

- Ở đây, người kể chuyện khác nhân vật, khác người tiêu điểm hóa và người được tiêu điểm hóa. Người kể chuyện không xưng tôi, không xuất hiện trực tiếp mà xuất hiện hàm ẩn, kể theo điểm nhìn của ba người tiêu điểm hóa là Định, lão Khúng và mụ Huệ.

- Người tiêu điểm hóa, người được tiêu điểm hóa và nhân vật trùng khít với nhau.

Trong tác phẩm, Khúng , Định, mụ Huệ vừa là người tiêu điểm hóa vừa là người được tiêu điểm hóa và vừa là nhân vật.

Ví dụ : Lão Khúng chính là người kể về câu chuyện của chính lão, gia đình lão và lão Khúng cũng chính là nhân vật trung tâm trong tác phẩm.



2. Điểm nhìn của người kể chuyện trong truyện

a> Vị trí không gian

- Người kể chuyện trong tác phẩm là người kể chuyện hàm ẩn, tức là khác với người tiêu điểm hóa. Người kể chuyện mượn điểm nhìn của lão Khúng, mụ Huệ và Định để kể lại câu chuyện, người kể chuyện được hóa thân vào ba nhân vật trong cuộc. Do đó, giữa người kể chuyện và thế giới hiện thực được kể có một khoảng cách không gian rất ngắn.

- Trong truyện, Định là chú của lão Khúng, mụ Huệ là vợ lão Khúng, thằng Dũng là đứa con được lão Khúng nuôi từ tấm bé đến lúc đi bộ đội. Với một mối quan hệ thân thuộc đó, khoảng cách không gian giữa người tiêu điểm hóa và người được tiêu điểm hóa rất ngắn. Cụ thể : Định đã quan sát và kể lại câu chuyện về cuộc đời của lão Khúng : trước khi lấy vợ, sau khi lấy vợ, lúc mới đi khai hoang và trong hiện tại. Thế giới hiện thực đó được kể qua những cảm nhận của Định nên vị trí không gian từ người kể chuyện đến đối tượng được kể ( lão Khúng) là không xa

b> Vị trí thời gian

Truyện “ Khách ở quê ra” được kể lại ở hai thời gian : thời gian quá khứ và thời gian hiện tại

- Thời gian quá khứ :

+> Định kể về chuyện “ cách đây đã 14 năm” của người cháu: “Vào một lần cách đây đã mười bốn năm, Định khoác chiếc ba lô con cóc nặng gần bốn chục cân – trên đường đi B dài – đến một cung độ từ đấy đâm thẳng xuyên qua đường số 1 về phía biển là làng Định”. Có lúc Định lại lùi về xa hơn, kể về khoảng thời gian kháng chiến chống Pháp kết thúc , Định trở về làng và gặp lại ông cháu, thấy ông cháu đã có vợ.

+> Lão Khúng kể về trận cãi vã với lão Chắt Hòe. Lão kể về mụ Huệ ( từ khi lão lấy mụ Huệ cho đến giờ)

+> Mụ Huệ kể về lần gặp lão Khúng, lúc mụ đang chuẩn bị sinh thằng Dũng, kể việc thằng Dũng đưa cô Loan về nhà.

- Thời gian hiện tại:



+> Câu chuyện về cuộc nói chuyện giữa Định và lão Khúng trong bữa ăn ở nhà Định : “ Định rót rượu ra chiếc chén hạt mít. Khách nhìn, áng chừng lấy làm sốt ruột và có lẽ cho là nhiêu khê, liền cầm lấy chai rượu từ trên tay chủ. Trong tay ông khách, chai rượu chảy ồng ộc xối rượu xuống cái bát ăn cơm còn để không đặt ở rìa mâm…”.

+> Lần ra phố một mình của lão Khúng cũng được kể ở thời gian hiện tại. Kết thúc tác phẩm cũng là thời gian hiện tại : “ Lão vội vã gói đồ đạc. Gần như cả gia đình Định đã đưa lão ra tàu.

Qua nửa đêm tàu bắt đầu lăn bánh. Khi những luồng gió không có gì cản trở, tự nhiên thổi lồng lên trên nóc và hai bên cửa sổ toa tàu hỏa, trong đêm lão Khúng nhận ra luồng gió nam man dại quen thuộc, và biết mình đã ra khỏi thành phố, đang trở về với đất cát hồn nhiên và hoang dã…”.

Mặc dù các sự kiện trong truyện được kể ở hai thời điểm qua khứ và hiện tại nhưng người kể chuyện vẫn đứng ở thời điểm quá khứ, sau khi câu chuyện đã xảy ra rồi và kể lại. Những đoạn kể sự kiện ở thời hiện tại chỉ xuất hiện ít và đó là hình thức giả trang nhằm tạo ra ấn tượng tươi mới nơi người đọc mà thôi.

c> Vị trí về quyền lực và thân hữu

- Khi người kể chuyện hóa thân vào nhân vật Định:

+> Định xưng “ tao” , có khi xưng “ mình” và gọi lão Khúng là “ cậu”. Xưng “ tao” thể hiện sự thân mật, suồng sã; xưng “ mình”, gọi “ cậu” thể hiện sự bình đẳng. Mặc dù Định là chú, lão Khúng là cháu nhưng vì Định chỉ hơn lão vài tuổi nên Định mới gọi như vậy. Cách gọi ấy đã rút ngắn khoảng cách bề trên – bề dưới và thể hiện sự tôn trọng của Định đối với lão Khúng.

+> Định xưng “ chú” và gọi mụ Huệ là “ cháu”. Cách xưng hô ấy thể hiện mối quan hệ không suồng sã mà lịch sự vì Huệ là cháu dâu và cũng là nữ sinh thành phố.

- Khi người kể chuyện hóa thân vào lão Khúng

+> Lão Khúng xưng là “ cháu”, có khi xưng “ tôi” và gọi Định là “ chú”. Cách xưng hô thể hiện sự tôn kính của người bề dưois với bề trên nhưng vẫn bộc lộ rõ tình cảm gắn bó thân thiết.

+> Lão gọi những người trong gia đình là mụ Huệ, thằng Dũng, thằng Khoan…chứng tỏ mối quan hệ gắn bó ruột thịt.

- Khi người kể chuyện hóa thân vào mụ Huệ

Người kể chuyện đã xuất phát từ quyền lực của mụ Huệ với chú Định, lão Khúng ( chồng) và thằng Dũng ( con trai). Đó cũng là mối quan hệ thân thiết gần gũi giữa những người trong gia đình.

Từ tất cả những điều đã phân tích ở trên, ta có thể thấy quan hệ quyền lực giữa người kể chuyện và thế giới được miêu tả ở đây thực chất là mối quan hệ giữa những người có quan hệ họ hàng, thân tộc. Họ hiểu rõ nhau và hiểu cả thế giới nội tâm của nhau. Do đó, khoảng cách quyền lực ở đây rất mờ nhạt.

c> Hình thức biểu hiện của truyện kể

- Trong truyện ngắn này, người kể chuyện đã dựa vào những suy nghĩ, những tâm trạng khác nhau của nhân vật để phản ánh thế giới. Cụ thể, người kể chuyện đã tựa vào điểm nhìn của 3 nhân vật: Định, lão Khúng, mụ Huệ.

- Xét theo tiêu chí cố định hay di động của điểm nhìn, tác phẩm này được kể theo điểm nhìn bên trong di động – người kể chuyện hàm ẩn, kể theo điểm nhìn nhiều nhân vật.

+> Câu chuyện bắt đầu bằng điểm nhìn của Định với những quan sát, cảm nhận của Định về đôi bàn tay của lão Khúng. Từ đó, Định tiếp tục hồi tưởng kể về gia đình lão Khúng trong quá khứ.

+> Sau đó câu chuyện lại được kể bằng điểm nhìn lão Khúng:

“ Lão lại trở về với cõi lòng sâu thẳm và mỗi ngày một khép kín của đời lão. Phàm con người ta ở đời, có cái gì hơn người, sướng vì nó mà chuốc lấy cay chua cũng vì nó…”

+> Có khi câu chuyện được kể bằng điểm nhìn của mụ Huệ : “ Trời ơi ! một thằng thanh niên ở miền rừng, đi bán cà chua ở chợ tỉnh không biết làm thế nào đã tha về được một đứa con gái có bằng cấp cao sang là nhường kia, xét ra tuy không đẹp bằng thằng Dũng nhưng cũng là một cô gái khá xinh xắn…”

+> Đôi lúc người kể chuyện hàm ẩn cũng tham gia vào việc kể câu chuyện : “ Cái anh chàng nông dân lêu têu có đầu óc thích nổi tiếng chấp nhận các điều kiện ấy với tất cả sự thất thiệt nặng nề của một anh trai tân, để đánh đổi lấy một cô vợ rõ xinh đẹp, nhất là một cô gái thành phố chính cống”/

Như vậy, trong tác phẩm, người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp mà kể câu chuyện thông qua điểm nhìn của ba nhân vật là mụ Huệ, Khúng và Định. Điểm nhìn này cũng không có tính chất cố định mà luôn luôn chuyển đổi từ người tiêu điểm này sang người tiêu điểm khác. Nhờ đó, Nguyễn Minh Châu có thể khám phá thế giới tâm hồn người dân miền Trung một cách tự nhiên hơn, chân thực hơn. Nếu như tác phẩm chỉ được kể lại bằng người kể chuyện đứng ngoài, thông tuệ và uyên bác hoặc được kể bằng điểm nhìn của Định – một người sống lâu năm ở thành phố thì thế giới nội tâm của người nông dân khó có thể được tái hiện một cách chân thực và sinh động. Khi đặt điểm nhìn vào lão Khúng, người đọc sẽ được thể nghiệm trực tiếp những suy nghĩ, những tâm trạng cũng như cách nói năng của một người nông dân “ chính cống”

Ví dụ:

“ Đủ làm sao được ? Dù vợ không muốn, lão cũng bắt vợ phải đẻ. Đẻ rối nuôi, sợ gì? Cái kho người nằm trong bụng vợ chứ có ở đâu xa? Đã dám bỏ làng bìu díu nhau lên sống ở giữa chốn rừng thiêng hoang vắng, đi hàng nửa ngày không gặp một người, thì phải có thêm người chứ? Không có đông người làm sao dọn hết đá? Làm ra con người khó đếch gì?”. Qua suy nghĩ của lão Khúng, ta thấy hiện lên trên trang viết một người nông dân vừa thiển cận, đơn giản lại vừa gia trưởng. Lối nói đó cũng là lối nói rất nông dân, suồng sã, thông tục. Tất cả những hiệu quả nghệ thuật trên sẽ không thể có được nếu ta đặt câu chuyện vào điểm nhìn của Định hoặc một người kể chuyện uyên bác.

Mặt khác, khi luôn thay đổi nhiều điểm nhìn, tác giả sẽ có thể soi chiếu đối tượng bằng nhiều cách nhìn, nhiều góc nhìn khác nhau. Thế giới tâm hồn người nông dân có khi được chính lão Khúng – người nông dân bộc bạch, có khi lại được soi chiếu bởi Đinh. Nhờ đó, câu chuyện trở nên phong phú hơn về giọng điệu và đồng thời cũng trở nên khách quan hơn.



4. Ngôn ngữ kể chuyện

a> Lời văn miêu tả

Dù là tả cảnh hay tả người thì lời văn miêu tả trong tác phẩm vẫn luôn luôn gắn với tâm trạng nhân vật.

Ví dụ : Khi tả diện mạo của Huệ, qua điểm nhìn của Định , tác giả viết:

“ Định chợt nhận thấy một vẻ chán chường tuy kín đáo hiện ra ở cái nếp nhăn thấp thoáng bên phía miệng người con gái thành phố”. Nỗi chán chường hiện lên trên cái nếp nhăn là cách miêu tả diện mạo thể hiện rõ thế giới nội tâm của con người đang chấp nhận số phận.

- Khi miêu tả thế giới nội tâm nhân vật, tác giả thường sử dụng các hành vi bên trong của nhân vật như : cảm thấy, thấy… và các trạng thái nội tâm trực tiếp

- Ví dụ : “ Tuy trong thâm tâm Huệ thấy vchua xót và đã nhìn thấy một cái gì khập khiễng giữa hai đứa tre nhưng chiều ấy, Huệ đã tiếp đãi bạn của con trai đặc biệt trân trọng và ân cần”

Hay “ Lão đã bắt đầu thấy ngột thở khi đứng trước cửa gian phòng đang định tìm”

b> Lời nói bên trong của nhân vật thường được dẫn dưới dạng ý thức nội tâm trực tiếp tự do.

Ví dụ : “ Xì, làm việc gì cũng chỉ nên nghe mình là hơn cả. Sau ngày vợ chồng lão trả lại miếng đất linh thiêng lại cho thần làng sau cái vụ có đứa đốt nhà lão, một cô y tá đứng trước thềm trạm xá phát thuốc ngừa thai cho đám đàn bà đi khai hoang đưa bàn tay vỗ vỗ lên vai vợ lão : “ Chị Huệ, chị đẻ ít thôi, ba cháu là đủ rồi Đủ làm sao được ? Dù vợ không muốn, lão cũng bắt vợ phải đẻ. Đẻ rối nuôi, sợ gì? Cái kho người nằm trong bụng vợ chứ có ở đâu xa? Đã dám bỏ làng bìu díu nhau lên sống ở giữa chốn rừng thiêng hoang vắng, đi hàng nửa ngày không gặp một người, thì phải có thêm người chứ? Không có đông người làm sao dọn hết đá? Làm ra con người khó đếch gì?”



Như vậy qua tất cả các yếu tố đã phân tích ở trên ta có thể thấy điểm nhìn của truyện ngắn “ Khách ở quê ra” của Nguyễn Minh Châu chính là điểm nhìn bên trong. Lựa chọn điểm nhìn này đã giúp tác giả phản ánh thế giới tâm hồn người nông dân miền Trung một cách hiệu quả và ấn tượng.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét