preload preload preload preload

Thứ Hai, ngày 30 tháng 11 năm 2009

CHUYEN DE VAN HOC DAN GIAN

A. PHẦN MỞ ĐẦU.




I. Lí do chọn đề tài.



1. Văn học dân gian và văn học viết luôn luôn là hai dòng mạch chủ lưu, hai bộ phận chính hình thành nên nền văn học của bất cứ quốc gia nào trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Văn học dân gian là bộ phận văn học truyền miệng, ra đời từ rất sớm, được tập thể nhân dân lao động sáng tác, lưu hành từ đời này qua đời khác.

Văn học viết là bộ phận văn học ra đời muộn hơn, khi đã có chữ viết, thường do một cá nhân sáng tác và lưu truyền bằng các văn bản.

Như vậy, mặc dù cùng là những sáng tác văn học nhưng văn học dân gian và văn học viết vẫn có những nét khác biệt cơ bản về hoàn cảnh ra đời, phương thức lưu hành, đối tượng sáng tác…vv. Những nét khác biệt đó sẽ kéo theo nhiều đặc điểm đặc trưng riêng của từng bộ phận văn học. Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận mối quan hệ gắn bó qua lại, khăng khít giữa hai bộ phận văn học này bởi trong suốt tiến trình văn học, chúng luôn tồn tại song song, bổ sung và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Điều đó đã chứng minh rõ vai trò vô cùng quan trọng của bộ phận văn học truyền miệng đối với văn học viết. Văn học truyền miệng là cơ sở, là nền móng để văn học viết hình thành và phát triển. Văn học viết cũng tiếp thu văn học dân gian trên các phương diện như đề tài, chủ đề, thể loại, ngôn ngữ, thi liệu…vv. Bằng thực tế sáng tác của mình, Nguyễn Du đã có lần viết :

“ Thôn ca sơ học tang ma ngữ”

( Ở trong ruộng bãi để học câu hát hay của người trồng dâu )

Chính mối quan hệ qua lại khăng khít đó đã kết tinh và tạo nên ở cả văn học dân gian và văn học viết Việt Nam những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một minh chứng điển hình, thơ Nguyễn Bính, thơ Đồng Đức Bốn cũng là những đại diện tiêu biểu. Và từ đó, việc phân tích các tác phẩm văn học trên tinh thần so sánh để nhận ra nét tương đồng cũng như khác biệt đã trở thành một việc làm thú vị, có ý nghĩa. Nó giúp ta nhận ra sợi dây liên kết giữa hai bộ phận văn học và phần nào chứng minh và lý giải được những nét mới mẻ của quá trình tiếp biến , đổi mới – một bước đi của văn học dân tộc.



2. Trong các thể loại văn học dân gian , truyện cổ tích được coi là một thể loại có vai trò quan trọng và có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó là thể loại tự sự dân gian, ra đời khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và sự phân chia giàu nghèo. Nhân vật trung tâm của truyện cổ tích là những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội như người mồ côi, người con riêng, người dị dạng…vv. Với những đặc điểm đó, rất nhiều nhà nghiên cứu văn học đã cho rằng truyện cổ tích dân gian chính là cơ sở để hình thành nên thể loại truyện ngắn của văn học viết. Truyện ngắn là những tác phẩm tự sự có dung lượng vừa và nhỏ, thường đi sâu vào những những sự kiện xung quanh một lát cắt trong cuộc đời nhân vật, một tình huống nghệ thuật để từ đó khái quát thành tư tưởng nghệ thuật, quan niệm nhân sinh.

Như vậy, truyện cổ tích dân gian và truyện ngắn là hai thể loại tuy thuộc hai bộ phận văn học khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ liên đới sâu sắc. So sánh và chỉ rõ mối quan hệ này sẽ giúp ta có những khám phá mới mẻ về sự tiếp thu cũng như tiếp biến của thể loại tự sự từ văn học dân gian đến văn học viết.



3. Truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyền Huy Thiệp và truyện cổ tích “Trương Chi” trong kho tàng văn học dân gian người Việt đều là những tác phẩm văn học hay và có nhiều giá trị. Truyện cổ tích “Trương Chi” từ những năm 60 của thế kỷ XX đã được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường đại học. Từ đó đến nay, tác phẩm còn trở thành đề tài và nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nghệ sĩ như Văn Cao, Vũ Khắc Khoan…vv, trong số đó có Nguyễn Huy Thiệp. Từ truyện cổ tích “ Trương Chi”, Nguyễn Huy Thiệp – cây bút truyện ngắn số một của nền văn xuôi đương đại Việt Nam đã sáng tác truyện ngắn “ Trương Chi”. Đây không phải là tác phẩm tiêu biểu nhất cho văn nghiệp của Nguyễn Huy Thiệp nhưng cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn của ông.

Xuất phát từ mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, giữa truyện cổ tích và truyện ngắn, đồng thời nhận ra mối liên hệ rõ nét giữa truyện cổ tích “ Trương Chi” và truyện ngắn “ Trương Chi”, người viết muốn phân tích hai tác phẩm qua cái nhìn đối sánh với hi vọng sẽ lĩnh hội thêm nhiều kiến thức quan trọng cũng như các phát hiện mới mẻ



II. Lịch sử vấn đề



1. Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích “ Trương Chi”

Truyện cổ tích “ Trương Chi” đã từng được chọn lựa để đưa vào giảng dạy trong khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội ngay từ những năm 1960 – 1970. Chính vì vậy, trong cuốn “ Giảng văn” tập 1 ( trường Đại học sư phạm Hà Nội), tác giả Nguyễn Ngọc Côn đã có bài giảng về truyện cổ tích “Trương Chi”. Trong bài giảng này, Nguyễn Ngọc Côn đã phân tích tác phẩm và chỉ rõ một số vấn đề nội dung và nghệ thuật cơ bản trên tinh thần giai cấp như vấn đề tình cảm đặt ra trong truyện, hình tượng Mỵ Nương, hình tượng Trương Chi…Và ngay sau khi bài giảng của thầy được in, được đưa vào giáo trình giảng dạy, trên “Tạp chí văn học” đã có rất nhiều những ý kiến góp ý của độc giả và các nhà phê bình về bài viết. Nguyễn Huệ Chi có bài “Góp thêm một nhận định về cuốn giảng văn của trường đại học sư phạm” in trên tạp chí văn học số 5 năm 1965. Ở bài viết này, Nguyễn Huệ Chi đã chỉ ra những thiếu sót cơ bản của tác giả Nguyễn Ngọc Côn trong việc nghiên cứu bình giá truyện cổ tích, có thể chỉ ra một số đoạn như sau:

“ Trong phương pháp giảng văn của Nguyễn Ngọc Côn còn có một thiếu sót thứ hai: không khách quan khi phân tích nhân vật. Đối với hình ảnh Mỵ Nương , anh đã chia thành hai quá trình đối lập: trước khi gặp chàng đánh cá – tình cảm vượt ra khỏi lí trí phong kiến và sau khi gặp gỡ - lí trí phong kiến lại thức dậy , nàng lại trở về vị trí cũ. Thực ra….hoàn toàn làm gì có chuyện mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm”

Ở một đoạn khác, Nguyền Huệ Chi lại bàn về vấn đề tiếng hát của Trương Chi như sau : “ bỏ qua mất cái phần rất cụ thể , cái sắc thái quần chúng trong tiếng hát của chàng đánh cá để cho rằng đây là một “ tiếng hát cơ hồ đã bị tước bỏ mọi cơ sở vật chất , mọi ràng buộc của hình hài mà đọng lại trong một âm hưởng chứa chan buồn bã thấm thía từng chỗ và man mác khắp nơi” thì e rằng Nguyễn Ngọc Côn đã nhầm lẫn bản chất của nghệ thuật: nghệ thuật mất hết tính giai cấp cũng không còn gắn với con người, nghệ thuật đã trở nên trừu tượng , đã thuần túy mất rồi”. Ngoài ý kiến đóng góp của Nguyễn Huệ Chi còn có ý kiến đóng góp của Hoàng Tuấn Phổ với bài viết : “ Bàn thêm về cuốn giảng văn của trường đại học sư phạm” in trên “Tạp chí văn học” số 4 năm 1965. Để trả lời và trao đổi với ý kiến của bạn đọc , tác giả Nguyễn Ngọc Côn đã có bài viết “ Mấy ý kiến về bài giảng văn Trương Chi” in trên “Tạp chí văn học” số 10 năm 1965. Ở bài viết này , tác giả đã nhận một số hạn chế về lập trường quan điểm, về mặt thực hiện yêu cầu giáo dục tư tưởng và về phương pháp bình giảng một truyện cổ dân gian khi phân tích truyện cổ tích trên. Nguyễn Ngọc Côn cũng cho rằng, trong bài giảng của mình đã “ chưa quán triệt quan điểm Mác xit về giai cấp nên trong nội dung lập luận có những nhận định mơ hồ lệch lạc , mâu thuẫn phản ánh ảnh hưởng không tự giác của thuyết tính người , trừu tượng siêu giai cấp”

Như vậy cả trong bài giảng văn của tác giả Nguyễn Ngọc Côn và cả trong các bài trao đổi, đối thoại của nhiều tác giả trên “Tạp chí văn học” , ta đều thấy việc bình giá , phân tích truyện cổ tích Trương Chi chủ yếu được thực hiện trên tinh thần tư tưởng giai cấp. Chính vì vậy, phần chân giá trị của tác phẩm vẫn chưa được các tác giả khai thác một cách triệt để.



2. Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp

Như trên đã nói, Nguyễn Huy Thiệp là một cây bút viết truyện ngắn độc đáo , xuất sắc của nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Kể từ khi tên tuổi ông xuất hiện cùng tập truyện ngắn đầu tiên thì trên văn đàn đã có hàng loạt những bài viết, những tác phẩm phê bình, đánh giá, trao đổi. Tiêu biểu nhất là cuốn “ Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Phạm Xuân Nguyên , cuốn sách tập hợp hầu hết các bài viết của rất nhiều cây bút nổi tiếng xoay quanh truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Những năm gần đây, hàng loạt những luận văn, luận án của học viên, nghiên cứu sinh đều lấy truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làm đề tài. Tuy nhiên, có thể thấy các bài viết ,các công trình nghiên cứu chủ yếu tiến hành nhận diện đặc trưng phong cách Nguyễn Huy Thiệp , những đặc trưng về nội dung , nghệ thuật trong tác phẩm của ông. Ở cấp độ tác phẩm cụ thể, các bài viết mới chỉ tiến hành phân tích những truyện ngắn tiêu biểu như : “ Tướng về hưu” , “ Con gái thủy thần” ,” Tội ác và trừng phạt”…vv

Riêng truyện ngắn “ Trương Chi”, mặc dù chưa có công trình hay bài viết nào phân tích chuyên sâu nhưng hầu như khi đề cập đến vấn đề xung quanh truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp , các tác giả đều phân tích truyện ngắn này trong tư cách như một dẫn chứng minh họa cho một luận điểm của bài. Trong luận văn thạc sĩ: “ Nguyễn Huy Thiệp từ ý thức tự vấn đến những cách tân nghệ thuật quan trọng” ,( Hà Nội, 2008) , tác giả Nguyễn Hoàng Diệu Thủy đã cho rằng : “ Trương Chi là ca sỹ của tình yêu, một thứ tình yêu hướng vào tuyệt đối. Khi nhận ra cuộc sống của chàng và của bầy đàn nói chung “ không sao ngửi được”, chàng đã từ chối tất cả, những ước lệ của thói đời, công danh, tiền bạc, sự nhẫn nhục, thói hãnh tiến… chỉ để hát về tình yêu tự do”. Nếu như Nguyễn Hoàng Diệu Thủy tiếp cận truyện ngắn Trương Chi chủ yếu từ góc nhìn nội dung tư tưởng thì tác giả Nguyễn Thị Huệ trong luận văn : “ Từ cảm quan trào lộng đến ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Hà Nội, 2007) lại cho rằng truyện ngắn Trương Chi là minh chứng tiêu biểu thể hiện cách sử dụng lớp từ vựng giàu chất dân gian-thông tục của Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả viết: “Trương Chi trong truyện cổ tích là một Trương Chi nổi tiếng hát hay và không rõ, không ấn tượng về nhân cách. Nhưng trong truyện ngắn Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp, một Trương Chi xuất hiện với lời giới thiệu và ngôn ngữ nhân vật giải thiêng, gây hấn rất mạnh”. Như vậy, ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả lại tiếp cận theo một khía cạnh riêng. Tuy nhiên sự tiếp cận đó chưa chuyên sâu và hoàn chỉnh

3> Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích “Trương Chi” và truyện ngắn “Trương Chi” qua cái nhìn so sánh.

Trong quá trình nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, rất nhiều các công trình đã đề cập tới chất dân gian hay ảnh hưởng của văn học dân gian đến các sáng tác của ông. Các bài viết đã ở một mức độ nào đó cho thấy sự khác biệt giữa hai tác phẩm truyện cổ tích Trương Chi và truyện ngắn Trương Chi. Trong luận văn thạc sỹ “ Tiếng cười trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”, tác giả đã chứng minh cho luận điểm “ Tiếng cười mang cảm hứng giải thiêng” bằng việc đối sánh như sau : “truyện ngắn Trương Chi giống như một giai thoại hiện đại, ngược lại với câu chuyện cổ. Như không biết tới chàng Trương Chi hiền lành nhân hậu, chung tình mà dân gian ca tụng, thương xót, Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp lạnh lùng cục cằn và đầy kiêu bạc”. Những nét so sánh đấy, mặc dù chưa mang tính hệ thống nhưng chính là những gợi ý quan trọng giúp cho tôi thực hiện đề tài này.



III> Đóng góp của đề tài.



Với đề tài này, tôi muốn tiến hành thao tác so sánh một cách hệ thống về hai tác phẩm : Truyện cổ tích “ Trương Chi” và truyện ngắn “ Trương Chi” trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Những nét chung giữa hai tác phẩm sẽ là cơ sở để tôi có thể chứng minh sự ảnh hưởng liên tục và rất có ý nghĩa giữa hai bộ phận văn học dân gian và văn học viết Việt Nam . Đồng thời, bên cạnh những nét chung, giữa hai tác phẩm sẽ có rất nhiều nét khác biệt. Đó là dấu hiệu cho thấy bước phát triển và sự đổi mới của văn học về quan điểm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật…vv. Từ truyện cổ tích “ Trương Chi” trong văn học dân gian đến truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp , văn học dân tộc đã bước những bước đi dài như thế nào? Đề tài này có lẽ sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc trả lời câu hỏi đó.





IV. Giới hạn và phương pháp nghiên cứu



1. Đề tài chủ yếu chỉ khảo sát trên hai tác phẩm chính

- Truyện cổ tích “ Trương Chi” trích trong “ Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam” do Chu Xuân Diên và Lê Chí Quế biên soạn ( NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2007)

- Truyên ngắn Trương Chi trích trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ( Nhà xuất bản Hội nhà văn

Ngoài ra để hỗ trợ cho việc triển khai đề tài , người viết có thể sử dụng thêm tư liệu từ các truyện cổ tích khác và các truyện ngắn khác của Nguyễn Huy Thiệp.



2. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh

- phương pháp phân tích



















B. PHẦN NỘI DUNG





CHƯƠNG I : NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG



1. Nhan đề

Cả hai tác phẩm đều được các tác giả đặt cho một nhan đề ngắn gọn là “ Trương Chi”. Tên nhan đề này gắn liền với tên gọi của nhân vật chính trong truyện , đó là nhân vật Trương Chi. Hầu hết , đối với những tác phẩm lấy tên nhân vật chính đặt tên cho nhan đề tác phẩm thì nhân vật đó cũng chính là đối tượng trung tâm phản ánh và chuyên chở quan niệm sống, tư tưởng tình cảm của nhà văn. Hiện tượng này có lẽ đúng với cả hai tác phẩm trên. Tuy nhiên, do truyện cổ tích “ Trương Chi” ra đời trước truyện ngắn “ Trương Chi” nên có lẽ việc Nguyễn Huy Thiệp đặt nhan đề như vậy là hoàn toàn có dụng ý. Phải chăng ông muốn nhân cái chung để nói cái riêng. Đó là cách để nhà văn công khai thực hiện công việc “ viết lại truyện cũ”?



2. Hệ thống nhân vật

Giữa hai tác phẩm trên , rõ ràng không phải chỉ là sự trùng lặp vô tình về mặt nhan đề mà còn có rất nhiều điểm tương đồng khác, trong đó có hệ thống nhân vật. Thực ra, ở đây là sự tiếp thu chủ động và tự giác. Truyện cổ tích “ Trương Chi” do ra đời trước nên có tính chất là nền tảng, cơ sở về đề tài, cốt truyện. Với truyện ngắn “ Trương Chi” , Nguyễn Huy Thiệp đã mượn cốt truyện dân gian để sáng tác. Do đó, truyện cổ tích “ Trương Chi” trên thực tế cũng chính là đề tài của truyện ngắn “ Trương Chi”. Điều này sẽ tất yếu dẫn đến những điểm tương đồng về hệ thống nhân vật giữa hai tác phẩm.

Các nhân vật vừa xuất hiện trong truyện cổ tích vừa xuất hiện trong truyện ngắn đó là Mỵ Nương, Trương Chi. Không chỉ giống nhau về số lượng mà các nhân vật được phác họa trong hai tác phẩm cũng có nhiều đặc điểm nhận diện giống nhau.

Về hoàn cảnh xuất thân, Trương Chi và Mỵ Nương xuất thân từ hai tầng lớp và giai cấp khác nhau. Mỵ Nương là tiểu thư con quan thừa tướng tức là thuộc giai cấp quý tộc, cành vàng lá ngọc. Còn Trương Chi là anh thuyền chài làm nghề đánh cá, xuất hiện cô độc một mình , không gia đình , không người thân thích. Đó là một ngư dân có địa vị thấp kém trong xã hội. Hai nhân vật xuất thân từ hai giai cấp khác nhau dẫn tới sự phân biệt về giàu – nghèo , sang – hèn. Đây là kiểu nhân vật phổ biến trong văn học Việt Nam. Về đặc điểm ngoại hình và đặc trưng nhận diện, hai nhân vật cũng được phác họa bằng những nét tả rất sơ lược, mang đậm chất dân gian. Mỵ Nương là tiểu thư khuê các, nhan sắc vô cùng xinh đẹp . Còn Trương Chi thì ngược lại, một người xấu xí nhưng có giọng hát rất hay. Dân gian khái quát thành một câu ca dao :

“Ngày xưa có anh Trương Chi

Người thì thật xấu hát thì thật hay’’

Trương Chi được xếp vào kiểu người tuy có hoàn cảnh nghèo khổ , ngoại hình xấu xí nhưng rất có tài. Ở cả hai tác phẩm, các tác giả đều khắc họa Trương Chi như một hình tượng người nghệ sĩ cô độc trước đám đông và bầy đàn.

Có thể nói những gì là đặc trưng ở cả hai nhân vật đều được hai tác phẩm nhắc đến. Dường như vẫn là hai nhân vật đó thôi chỉ có điều họ đã được các tác giả dân gian và Nguyễn Huy Thiệp đưa vào hai môi trường chuyên biệt, một môi trường huyền thoại và một môi trường hiện đại.



3. Kết cấu và cốt truyện chính

Nhìn một cách tổng thể nhất, cả hai tác phẩm đều có chung một kết cấu, đây là kiểu kết cấu truyền thống, quen thuộc. Phần mở đầu là sự xuất hiện của các nhân vật, phần tiếp theo là diễn biến câu chuyện và phần cuối cùng là kết thúc, nói về số phận của họ. Với việc vận dụng kiểu kết cấu này, Nguyền Huy Thiệp đã tạo nên một mô hình cốt truyện “ giả cổ tích” rất thú vị.

Về cốt truyện chính, cả hai tác phẩm đều đề cập đến cuộc gặp gỡ giữa Mỵ Nương và Trương Chi ở chốn cung đình. Vẫn là câu chuyện Mỵ Nương vì say mê tiếng hát của Trương Chi mà sinh ra ốm tương tư. Điều đó là nguyên nhân dẫn tới cuộc gặp gỡ định mệnh giữa hai nhân vật. Sau cuộc gặp gỡ đó, Trương Chi đã tìm đến sự giải thoát cho riêng mình. Việc lặp lại cốt truyện chính này đã giúp Nguyễn Huy Thiệp tạo nên một chiếc “ bình cũ” để chứa đựng “ rượu mới” được chưng cất trong văn học hiện đại.



4. Ý nghĩa của sự tương đồng

Như vậy mặc dù ra đời ở những thời gian khác nhau song hai tác phẩm đã có nhiều điểm chung, điểm găp gỡ về nhan đề , hệ thống nhân vật cũng như cốt truyện chính. Tuy nhiên, sự tương đồng này hoàn toàn không phải là hiện tượng vô tình ( như đã nói ở trên). Thực ra, truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp đã vay mượn cốt truyện dân gian một cách chủ động. Nhà văn tìm cách lặp lại cái cũ để tạo tiền đề nói cái mới. Song dù chủ động hay bị động thì những nét tương đồng đã nêu trên vẫn cho thấy rõ mối quan hệ gắn bó qua lại giữa hai bộ phận văn học : văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian không chỉ là nền tảng giúp văn học viết hình thành mà nó còn nuôi dưỡng văn học viết phát triển. Ở đây, Nguyễn Huy Thiệp đã kế thừa truyện cổ tích một cách đầy sáng tạo và hiệu quả. Nếu văn học dân gian Việt Nam không có truyện cổ tích “Trương Chi” thì chắc hẳn văn học đương đai Việt Nam cũng sẽ không có truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp. Điều đó đã cho thấy tầm ảnh hưởng lâu bền của văn học dân gian đối với văn học viết ở mọi thời kỳ. Và tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp (không chỉ truyện ngắn “ Trương Chi”) thành công đến thế là nhờ có sự kết tinh kỳ diệu giữa chất hiện đại và chất truyền thống.





























































CHƯƠNG II: NHỮNG NÉT KHÁC BIỆT



Như trên đã nói, truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp là một kiểu “ truyện cũ viết lại”, một truyện “ giả cổ tích”, “ phản cổ tích”. Do đó, việc Nguyễn Huy Thiệp giữ lại những nét chính ở cốt truyện dân gian chỉ có ý nghĩa tạo nên một cơ sở đối chiếu, so sánh để từ đó ông sáng tạo nên một cốt truyện hoàn toàn mới. Xuất phát từ chủ đích sáng tạo đó, giữa truyện cổ ích “ Trương Chi” và truyện ngắn” Trương Chi” rõ ràng sẽ có nhiều nét khác biệt. Và nét khác biệt này mới chính là điều cơ bản khiến cho mỗi tác phẩm được là “chính nó” tức là được giữ nguyên những đặc trưng riêng về kiểu loại. Qua việc tiến hành khảo sát và so sánh, tôi sẽ làm rõ những nét khác biệt trên các phương diện sau:

- Cốt truyện

- Nhân vật và quan niệm nhân sinh

- Nghệ thuật trần thuật



1. Cốt truyện

Ở chương I, khi nói đến những nét tương đồng, người viết có đề cập đến sự tương đồng về kết cấu và cốt truyện chính. Đến đây, cốt truyện lại được đưa ra làm tiêu chí để nhận diện sự khác biệt. Điều này hoàn toàn không có sự mâu thuẫn. Bởi lẽ, giữa hai tác phẩm chỉ có chung những sự kiện chính, cốt truyện chính, còn việc triển khai sự vận động của cốt truyện một cách cụ thể thì mỗi tác phẩm lại có nét riêng. Nói cách khác, khi trình bày những nét tương đồng là người viết khảo sát một cách tổng quát còn đến đây, khi trình bày những nét khác biệt, người viết sẽ có cách nhìn cụ thể hơn, chi tiết hơn.

1.1. Truyện cổ tích “Trương Chi”

Truyện cổ tích “ Trương Chi” cũng giống như rất nhiều truyện cổ tích khác, do được lưu hành bằng phương thức truyền miệng nên yêu cầu dễ nhớ khiến cho cốt truyện của tác phẩm thường rất đơn giản và ngắn gọn. Truyện cổ tích “ Trương Chi” có thể được tóm tắt như sau:

Mỵ Nương là con quan thừa tướng, có nhan sắc xinh đẹp tuyệt trần , sống cấm cung. Trương Chi là anh thuyền chài , người thì thật xấu mà hát lại thật hay. Hàng ngày, Mị Nương ở trong cung cấm, nàng lắng nghe tiếng hát Trương Chi và say mê tiếng hát của chàng. Một dạo, Trương Chi đi đánh cá ở khúc sông khác, không được nghe tiếng hát, Mị Nương sinh ốm tương tư. Thừa tướng vời Trương Chi đến thăm Mị Nương, nàng dần khỏi bệnh nhưng nhìn thấy mặt Trương Chi rồi thì nàng tỏ ý lạnh nhạt. Kể từ đó, Trương Chi thầm yêu Mị Nương, chàng tủi cho thân phận nghèo hèn nên nhảy xuống sông tự vẫn. Hồn chàng nhập vào cây gỗ bạch đàn. Có người vớt được cây gỗ, bán cho thừa tướng. Ngài sai người tiện thành bộ chén trà. Một hôm Mị Nương cầm chén nước thì nhìn thấy hình ảnh Trương Chi hiện lên cùng với tiếng hát. Một giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén và chiếc chén cũng tan ra thành nước.

Như vậy, đây là một cốt truyện quen thuộc và rất phổ biến trong truyện cổ tích dân gian. Cốt truyện chủ yếu nói về số phận nhân vật Trương Chi cùng với bi kịch tình yêu của chàng. Tất cả các sự kiện liên quan đến nhân vật hầu như chỉ được tác giả dân gian nhắc đến mà không thiên vào miêu tả. Yếu tố miêu tả chi tiết được hạn chế tối đa giúp cho câu chuyện ngắn gọn, dễ nhớ và tạo ấn tượng về con người lao động xấu xí, nghèo hèn trong xã hội xưa.



1.2. Truyện ngắn “ Trương Chi”

So với truyện cổ tích thì truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có một dung lượng ngôn từ tương đối dài( 11 trang). Trung tâm của cốt truyện vẫn là nhân vật Trương Chi nhưng nhà văn không chủ tâm tái hiện số phận nhân vật mà ông lại dụng công hơn vào việc miêu tả cuộc gặp gỡ giữa Mị Nương và Trương Chi. Phần này là sáng tạo hoàn toàn của Nguyễn Huy Thiệp mà truyện cổ tích không có. Cốt truyện có thể được thâu tóm như sau:

Trương Chi đã gác mái chèo và mặc kệ dòng sông cuốn con thuyền đi. Màn đêm buông xuống, tiếng hát chàng vút cao. Chàng khóc vì sự cô đơn đang xâm chiếm. Hình ảnh Mị Nương và cuộc gặp gỡ định mệnh ấy lại hiện ra trong tâm trí chàng. Cuộc gặp gỡ ấy khiến chàng nhận ra cuộc sống của mình và bầy đàn “ thối hoắc”. Gặp Mị Nương , Trương Chi được viên quan trưởng yêu cầu hát ca ngợi công danh , chàng đã hát một bài hát đông người, thô bỉ khiến bọn hoạn quan cười ré lên “ hát như cứt”. Viên quan trưởng yêu cầu chàng hát về sự nhẫn nhục, Trương Chi hát và luống cuống. Khi phải hát ca ngợi tiền bạc, chàng lại phải hát một bài hát đông người, toàn “ấy a” với “huầy dô” khiến bọn hoạn quan cười ré lên và Mị Nương thì cười rũ rượi. Cuối cùng, Mị Nương yêu cầu chàng hát về tình yêu. Đến lúc này chàng mới được hát cho chính mình , tiếng hát chàng cao vút, tất cả im lặng, Mị Nương khóc. Trương Chi bay tới bến sông, xa rời hoàn toàn Mị Nương và cung cấm. Chàng trèo thuyền ra tim sông và bước xuống xoáy nước giữa sông – một hốc đen bí mật.

Như vậy , nếu như cốt truyện văn học dân gian chủ yếu quan tâm tới các sự kiện chính diễn ra trong cuộc đời nhân vật thì truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp lại đặc biệt chú ý đến một khoảnh khắc, “ một lát cắt” trong đời nhân vật. Đó là cuộc gặp gỡ giữa Trương Chi và Mị Nương. Chính sự khác nhau cơ bản này khiến cho nhân vật trong hai tác phẩm vừa “ vẫn là chính nó” vừa “ không phải là nó nữa”







2. Nhân vật – triết lí nhân sinh



2.1 Nhân vật Mị Nương

a> Truyện cổ tích “ Trương Chi”

Trong truyện cổ tích , nhân vật Mị Nương được nói đến nhiều hơn Trương Chi, xuất hiện từ phần mở đầu đến cuối truyện. Qúa trình vận động trong tình cảm của Mị Nương là điều mà tác giả dân gian quan tâm và đặt ra trong tác phẩm.

Trước khi gặp Trương Chi, Mị Nương được giới thiệu như sau: “ Ngày xưa, có một ông quan thừa tướng sinh được người con gái tên là Mị Nương, nhan sắc tuyệt trần. Nàng ở cấm cung trong ngôi lầu cạnh bờ sông.” Nếu như Trương Chi chỉ là một anh thuyền chài nghèo khổ, cô độc thì Mị Nương là con gái thừa tướng cao sang , quyền quý. Nếu như Trương Chi là người có ngoại hình xấu xí thì Mị Nương lại xinh đẹp tuyệt trần. Sự đối lập triệt để giữa hai nhân vật là cách phản ánh rất chân thực cho sự phân chia giai cấp, phân chia giàu nghèo trong xã hội bấy giờ. Giữa rất nhiều những khác biệt ấy, Mị Nương và Trương Chi vẫn có một mối liên hệ, đó là sự giao cảm qua tiếng hát. Hằng ngày, ở trong cung cấm, Mị Nương vẫn lắng nghe tiếng hát của Trương Chi vọng vào. Và chính tiếng hát “ rất hay” đã “ khiến cho Mị Nương ở trong lầu xao xuyến , say mê”. Lúc này, tình cảm của Mị Nương là sự đồng cảm, tri âm thậm chí là ngưỡng mộ đối với tiếng hat – tài năng và tâm hồn của Trương Chi. Đó là tình cảm thực sự, không lí trí , không giai cấp, không vụ lợi. Và khi không được nghe tiếng hát, “ Mị Nương sinh ra sầu não . Nàng bồn chồn trông đợi. Tiếng hát vẫn vắng lặng và nàng bắt đầu ốm”. Chi tiết này chứng tỏ ở Mị Nương, tình cảm dành cho tiếng hát đã vượt qua sự say mê nghệ thuật, nó đã trở thành tình yêu, tình yêu với tiếng hát và với người tình trong mộng là Trương Chi. Vì vậy mà khi Trương Chi được vời đến thăm Mị Nương và hát cho Mị Nương nghe thì nàng đã khỏi bệnh. Có lẽ tình yêu của Mị Nương là tình yêu dành cho một con người chỉ tồn tại trong tưởng tưởng của nàng. Đó chắc hẳn là một người có tiếng hát say đắm lòng người và đồng thời cũng là một chàng trai tài hoa với ngoại hình tuấn tú. Điều này đã khiến cho tình cảm của nàng thay đổi đột ngột khi đối diện với thực tế: “Đến khi nhìn thấy mặt Trương Chi thì nàng tỏ ý lạnh nhạt và không còn mê tiếng hát của chàng như trước kia nữa”. Gặp mặt Trương Chi tức là nhận ra sự chênh lệch quá lớn và sự khác biệt quá rõ ràng, Mị Nương đã vỡ mộng. Tình cảm của nàng theo đó cũng biến mất, tình yêu đối với tiếng hát cũng không còn. Đến đây Mị Nương đích thực là con đẻ của tầng lớp quý tộc phong kiến. Ở nàng, mọi chuẩn mực về con người đã được định sẵn theo lý tưởng phong kiến. Tác giả dân gian không để cho bất cứ một thế lực nào tham gia vào việc ngăn cản cấm đoán tình yêu của nàng. Sự thay đổi tình cảm là xuất phát từ chính con người Mị Nương. Từ chỗ thấu hiểu, tri âm với Trương Chi , Mị Nương đã trở nên lạnh nhạt với chàng và hoàn toàn không còn sự đồng cảm ấy nữa. Chính điều đó đã dẫn tới bi kịch tình yêu cho Trương Chi. Qua việc xây dựng nhân vật Mị Nương, tác giả dân gian đã phản ánh một hiện thực trong thời đại bấy giờ, đó là hiện thực về tình yêu. Tình yêu của nàng không vượt ra khỏi quan niệm và hàng rào kiên cố của giai cấp phong kiến.



b> Truyện ngắn “Trương Chi”

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật Mị Nương được khắc họa trong một hình ảnh rất khác. Bước ra khỏi thế giới cổ tích, nàng trở về cuộc đời thực với những lời nói , hành động , cử chỉ rất thực. Nguyễn Huy Thiệp không đi sâu vào phản ánh sự thay đổi trong tình cảm của nàng với Trương Chi mà chỉ tập trung làm nổi bật con người của nàng trong buổi gặp gỡ với Trương Chi. Đối với nàng, Trương Chi chỉ như một kẻ tôi tớ , có tác dụng phục tùng ý thích trong chốc lát. Bởi vậy mà văn học dân gian cho rằng việc gặp Mị Nương khiến cho Trương Chi đem lòng yêu nàng còn Nguyễn Huy Thiệp lại khẳng định: “ Giờ đây gặp Mị Nương rồi, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt , là cứt chó, không sao ngửi được”. Đây là một Mị Nương khác hẳn, một Mị Nương đã khiến cho Trương Chi thay đổi hoàn toàn cách nhìn về cuộc đời, từ một con người thấy “ thói đời lướt qua chàng không dấu vết” trở thành một con người thấy “ tất cả đều thối hoắc”.

Trong cuộc gặp gỡ với Trương Chi, Mị Nương không phải là vị tiểu thư yếu đuối, đang cần sự chăm sóc mà ngược lại: “ Nàng ngả người xuống đệm. Nàng lấy những ngón tay thon thả gỡ tóc. Nàng bảo chàng : “ Hát đi”. Nàng dùng mọi cách để vào hùa cùng với viên quan trưởng, bọn hoạn quan biến Trương Chi trở thành một trò mua vui, tiêu khiển. Khi thì nàng mỉm cười khuyến khích, khi lại tỏ vẻ thương xót, khi thì làm một cử chỉ mơn trớn. Có lúc, trước vẻ luống cuống của Trương Chi, nàng cười rũ rượi. Chàng biết, sau tiếng cười độ lượng kia, nàng sẽ mím môi lại. Nàng có tật thế”. Mị Nương dường như không có tâm hồn đồng điệu hay bất cứ một cảm thông nào đối với Trương Chi cũng như tiếng hát của Trương Chi. Đây là một con người thờ ơ , lãnh đạm. Và đến cuối tác phẩm, Nguyễn Huy Thiệp đã viết: “ Mị Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc. Điều ấy vừa tàn nhẫn vừa phi lí. Lẽ đời là thế…”. Rõ ràng, so với Mị Nương trong truyện cổ tích thì hình ảnh Mị Nương của Nguyễn Huy Thiệp vừa vô cảm , lạnh lùng vừa tầm thường. Trong truyện cổ tích, sau khi Trương Chi tự tử, Mị Nương vẫn có lúc chạnh nhớ mối tình đã qua mà rơi nước mắt tức là nàng vẫn có tâm hồn, có trái tim, vẫn day dứt, trắc ẩn trước cái chết của chàng. Còn ở đây, Mị Nương vẫn sống hạnh phúc, sung sướng như chưa hề gặp một chàng Trương Chi nào. Đó là thói đời

Xây dựng hình ảnh Mị Nương, Nguyễn Huy Thiệp không nhằm nhấn mạnh vấn đề tình yêu của nàng mà chủ yếu đề cập đến thái độ của nàng đối với tiếng hát và tài năng của Trương Chi, vị thế của nàng đối với người nghệ sĩ thuyền chài. Mị Nương là người có quyền thế, người đưa ra những “ đơn đặt hàng” của đám đông và đòi hỏi Trương Chi phải phục vụ. Nàng không có tâm hồn biết coi trọng và thưởng thức cái đẹp thực sự nên đương nhiên cũng hoàn toàn không có sự tri âm với cái đẹp. Mị Nương cùng với đám quan lại là những lực lượng đã can thiệp một cách thô bạo vào nghệ thuật, vắt kiệt sức sống trong tiếng hát Trương Chi. Đây là biểu tượng cho sự phản nghệ thuật trong văn học.



2.2. Nhân vật Trương Chi

a> Truyện cổ tích “Trương Chi”

Truyện cổ tích dân gian thường là tiếng nói của những số phận bất hạnh trong xã hội. Đó là người mồ côi, người em út, người con riêng, người dị dạng…vv. Trương Chi trong câu chuyện này cũng là một số phận bất hạnh . Chàng làm nghề chài lưới , lại chỉ có một mình và có ngoại hình vô cùng xấu xí. Đó là một chàng trai lao động nghèo khó, hèn mọn nhưng bù lại chàng có tiếng hát hay, say đắm lòng người. Tiếng hát của Trương Chi thực chất chính là tâm hồn chàng. Và có thể coi chàng chính là hình ảnh những nghệ sĩ dân gian, có tâm hồn khỏe khoắn, lạc quan , cao đẹp: “ Bấy giờ có một chàng trai con nhà thuyền chài tên là Trương Chi, ngày ngày đến thả lưới kiếm ăn trên khúc sông đó, chàng ta vừa buông lưới vừa hát”. Trương Chi là một hình tượng nghệ thuật đẹp trong văn học dân gian Việt Nam. Chàng cũng giống như người thợ mộc Thanh Hoa trong một bài ca dao quen thuộc vậy.

Đối với Mị Nương , Trương Chi trước hết là một ân nhân. Khi được thừa tướng vời vào thăm Mị Nương ốm “ chàng vừa ngồi sắc thuốc vừa hát cho Mị Nương nghe”. Chính sự nhân hậu ấy đã giúp cho Mị Nương dần khỏi bệnh. Nhưng kể từ sau lần gặp gỡ ấy, chàng lại thầm yêu Mị Nương. Tác giả dân gian không nói chàng yêu Mị Nương vì cảm mến sắc đẹp của nàng hay vì cảm động trước tấm lòng của nàng dành cho mình nhưng tình yêu của Trương Chi vẫn phản ánh một trái tim nhạy cảm và nặng nghĩa tình của người nghệ sĩ.

Khi Mị Nương tỏ ra lạnh nhạt với mình, Trương Chi cũng “ tủi cho phận nghèo hèn, buồn chán không thiết làm ăn gì nữa. Rồi một hôm chàng hát:

Kiếp này đã dở dang nhau

Thì xin kiếp khác duyên sau lại lành

Hát xong chàng nhảy xuống sông tự vẫn. Đó là câu hát cuối cùng trong đời chàng” . Đó là bi kịch tình yêu cuả chàng. Tình yêu ấy đã vấp phải hàng rào của xã hội phong kiến. Cái chết của Trương Chi là cái chết tuyệt vọng vì tình yêu không được đáp đền, không được đón nhận. Nhưng người nghệ sĩ ấy vẫn mãi ôm trong lòng mối tình vô vọng để rồi sau khi chết lại hóa thân vào thân cây gỗ bạch đàn, được thừa tướng mua, tiện thành bộ chén trà. “Một hôm, Mị Nương cầm chén rót nước thì lạ thay hình ảnh người đánh cá hiện lên, chầm chậm xoay quanh lòng chén. Tức thì tiếng hát ngày xưa văng vẳng như than như trách”. Đó là thứ tình yêu vượt qua cái chết, nó vẫn mong được thấu hiểu, sẻ chia. Đối với Trương Chi, Mị Nương vẫn cao đẹp, thánh thiện, không hề đáng trách. Bởi vậy khi “ một giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén” thì “ chiếc chén cũng tan ra thành nước”. Lúc này, Trương Chi mới nhận được sự đồng cảm, cho dù là muộn màng nhưng đối với chàng đó đã là mãn nguyện. Dường như Trương Chi không chỉ có một tình yêu vô vọng mong được giải đáp mà chàng còn có một tâm hồn cô đơn cần sự đồng cảm của người đời. Xây dựng nhân vật trương Chi, tác giả đã phản ánh số phận bi kịch của chàng. Tuy nhiên ,trong cảm thức suốt bao năm qua của nhân dân, Trương Chi vẫn là một huyền thoại về một người nghệ sĩ tài hoa, chân thành, đa cảm. Đó là một biểu tượng đẹp!



b> Truyện ngắn “ Trương Chi”

Từ thế giới của văn học dân gian bước sang thế giới của văn học hiện đại, Trương Chi đã đến với người đọc thông qua lăng kính của Nguyễn Huy Thiệp. Ở đây rõ ràng là một cuộc lột xác để từ một Trương Chi hiền lành, nhân hậu , bé nhỏ trở thành một Trương Chi đời thường hơn, cứng cỏi hơn.

Thông qua ngôn ngữ và hành động của nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa một Trương Chi tục tằn, thô lỗ. Mở đầu câu chuyện, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả Trương Chi đứng ở đầu mũi thuyền. Chàng trật quần đái vọt xuống dòng sông. Vứt bỏ bộ áo huyền thoại , Trương Chi trở về với đời thực trong một diện mạo khác hẳn. Hành động của chàngg vừa thô lỗ vừa phản thẩm mĩ. Không chỉ ở hành động mà ngay cả ngôn ngữ nói năng của chàng cũng rất tục tằn. Câu nói quen thuộc nhất với chàng là : “ Cứt”. Đó là một lời chửi tục được chàng buông ra bất cứ lúc nào. Trong tác phẩm, Trương Chi nhắc lại câu chửi đó 5 lần. Và ngay cả khi sắp bước xuống xoáy nước giữa sông thì câu nói cuối cùng của chàng vẫn là “ Cứt!”. Không còn là một chàng trai lao động tài hoa, khỏe khoắn nữa mà là một anh thuyền chài thô tục. Những hình ảnh này đã tác động rất mạnh mẽ đến cảm quan thẩm mĩ và thị hiếu của kiểu bạn đọc truyền thống. Nguyễn Huy Thiệp đã “lội ngược dòng” để nói những điều trước nay chưa ai biết.

Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn là nhân vật đa diện, phức tạp. Trương Chi cục cằn, thô lỗ đó cũng đồng thời là một Trương Chi phải nếm trải tận cùng của sự cô đơn. Chàng là một con người cô độc và là một nghệ sĩ cô độc. Trong đêm khuya, chàng không bầu bạn, chỉ làm bạn với tiếng hát, với sông nước : “ Một nỗi buồn da diết choán ngợp lòng chàng. Chàng gác mái chèo và mặc kệ dòng sông cuốn con thuyền đi”. Tiếng hát của chàng là lời tâm sự gãi bày của một tâm hồn cô đơn tuyệt đối, không tuổi trẻ, không kí ức, không ước mơ, chỉ có nỗi đau, nỗi sầu và nỗi buồn choán ngợp hết thảy:

“ Nỗi buồn của ta ơi

Như cục đá đè nặng tim ta

Nào ai thấu ?...

…Ta đã mơ rất say đắm…

…Những ước mơ đâu cả rồi?”

Cất cao tiếng hát để kiếm tìm sự chia sẻ, đồng cảm nhưng trong bóng tối: “ Không có ai đáp lại chàng. Sự vắng lặng kinh hoàng. Chỉ có giun dế, tiếng ễnh ương, tiếng chó sủa”. Bi kịch của Trương chi có khác nào bi kịch của Chí Phèo đã được Nam Cao nói đến từ trước Cách mạng? Đó là bi kịch của một con người bị loại ra khỏi bầy đàn, thế giới loài người khước từ mọi giao tiếp và sợi dây liên hệ với chàng. Sống giữa cuộc đời, chàng bị chìm khuất và hòa vào đời sống của những giun dế, ễnh ương, chó. Đó không phải chỉ là sự cô đơn của một con người sống một mình mà là sự cô đơn thẳm sâu trong tâm hồn nghệ sĩ chưa từng được một lần chia sẻ. Trong truyện cổ tích, Trương Chi chủ yếu được miêu tả là một thân phận cô đơn, còn ở đây, trong truyện ngắn nguyễn Huy Thiệp , chàng là một con người mang tâm trạng cô đơn. Chính sự cô đơn ấy đã khiến chàng chưa bao giờ có một nhận thức thật đúng về bản thân mình và cuộc sống của mình. Chàng “ chỉ hình dung mơ hồ có những cuộc sống khác, lối sống khác. Chàng chỉ ngờ ngợ rằng cuộc đời chàng tẻ nhạt, nhàm chán. Rằng thân phận chàng chẳng ra gì. Cả ngay tiếng hát của chàng cũng thế, vô nghĩa, chẳng ra gì…Mọi ước lệ của thói đời lướt qua chàng không dấu vết. Chàng cũng lướt qua nó, những ước lệ của thói đời đó không dấu vết”. Đó là một con người không ý thức được về chính mình, không hiểu chính mình, không biết được rằng mình bất hạnh và cũng không biết mình có tài. Chính vì luôn sống trong cô đơn nên khi bước chân vào chốn cung đình, trước Mị Nương và đám hoạn quan, chàng lúc nào cũng luống cuống đến tội nghiệp:

“ Trương Chi ngó quanh. Bọn hoạn quan, những gã đồng cô, những tên hề lùn, bọn bói toán , tướng số, lang băm… xúm xít, ép chặt lấy chàng. Trương Chi sợ hãi. Chàng mong nhìn thấy một người đánh cá, chỉ đánh cá mương thôi cũng được, chẳng cần đến loại người đánh cá kình. Chàng sẽ vững tâm”. Đó là một kiếp người quá nhỏ bé, không tìm thấy sự hòa hợp trong đám đông cao sang. Một mình Trương Chi phải đón nhận cùng một lúc hai bi kịch : bi kịch của một con người và bi kịch của một nghệ sĩ. Chính những nét này khiến cho chàng hiện lên chân thực hơn, sâu sắc hơn những dòng miêu tả trong truyện cổ tích.

Khi xây dựng nhân vật Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp không đi sâu vào vấn đề bi kịch trong tình yêu của chàng mà chủ yếu nói đến bi kịch trong nghệ thuật. Trương Chi trong truyện cổ tích đã trở thành huyền thoại về một tài năng làm say đắm lòng người. Tiếng hát của chàng vô tư và không phải chịu sự chi phối của hoàn cảnh. Chàng hát cho chàng và hát cho Mị Nương, lúc nào cũng hay, cũng say đắm. Tiếng hát đó là hiện thân cho tiếng nói của tình yêu đôi lứa. Ở đây, tiếng hát của Trương Chi là nghệ thuật, là tài năng. Nó có giới hạn và không hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của hoàn cảnh.

Khi phải hát ca ngợi công danh, Trương Chi tức nghẹn họng: “ Chàng khò khè trong cổ. Chưa bao giờ chàng hát một bài hát thô bỉ như thế này. Bài hát chỉ toàn “ ấy a” với lại “ huầy dô”. Có chỗ chàng lại bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác và tiếng dê kêu nữa. Bài hát đông người…”. Khi hát những bài hát này, Trương Chi không phải là nghệ sĩ. Bởi lẽ, phải hát về công danh, tiền bạc, sư nhẫn nhục tức là chàng phải hát về những thứ mà chàng chưa hề biết tới. Nó là bài hát của đám đông, về đám đông. Bài hát ấy không xuất phát từ tâm hồn và trái tim chàng nên nó khiến chàng luống cuống. Còn khi được hát về tình yêu, tức là hát cho chính mình, cho cái đẹp cao thượng của thế giới thì “ Tiếng hát Trương Chi cao vút. Xung quanh im bặt. Những giọt nước mắt long lanh trên mắt Mị Nương”. Trương Chi trong truyện ngắn Nguyễn Huy thiệp rõ ràng là người nghệ sĩ ý thức rất sâu sắc về tài năng của mình. Tài năng của chàng không phải là tài năng cho đám đông coi trọng tiền bạc, sự nhẫn nhục. Đó là tài năng cho chính chàng, cho tình yêu. Khi không được hát cho chính mình thì chàng sẽ “ mất hết, mất cả cuộc đời”. Trương Chi là ca sĩ của tình yêu, một thứ tình yêu hướng về tuyệt đối, không phải là dành cho Mị Nương. Khám phá ý thức về tiếng hát của Trương Chi chính là một nét sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Huy Thiệp.

Trong mối quan hệ với Mị Nương, Trương Chi hoàn toàn không phải là kẻ lụy tình, vì tình yêu không được đáp đền mà tìm đến cái chết. Ở đây là một Trương Chi sống bằng lí trí nhiều hơn. Cũng có lúc Trương Chi bị mềm lòng trước một cử chỉ khuyến khích của Mị Nương nhưng đó là vì “ Trong cuộc đời bạc bẽo của chàng, Trương Chi chưa được ai khuyến khích bao giờ”. Đối với Mị Nương, Trương Chi tỏ ra rất hiểu nàng, hiểu từ bản chất đến mọi thói tật của nàng. Bởi vậy mà chàng tỉnh táo hơn. Điều này được tác giả thể hiện rõ qua các chi tiết: “ Mị Nương làm một cử chỉ mơn trớn. Chẳng có ai nhận ra cử chỉ ấy. Chỉ có riêng chàng biết.”. Hay: “ Mị Nương cười rũ rượi. Chàng biết, sau tiếng cười độ lượng kia, nàng sẽ mím môi lại. Nàng có tật thế”. Qua lời hát của Trương Chi, Mị Nương cũng hiện lên với tất cả sự vô tình, vô cảm:

“ Này người tình ơi

Rồi nàng cũng thành một bà lão

lụ khụ, đáng kính và cô đơn thôi

… Nàng cứ cười đi

Và chớ có tin

Nàng có tin ai đâu

Thói của nàng là thế

Nàng được giáo dục nhưu thế từ bé tý

Nàng chỉ tin ở bạo lực

Ta biết thừa”

Đối với Trương Chi, Mị Nương hoàn toàn không có vị trí và ý nghĩa gì. Chàng cho rằng: “ Dù Mị Nương có là con phượng hoàng kiêu hãnh hoặc con nhện xấu xí cũng vậy. Với chàng lúc này, tất cả đều như nhau. Tình yêu của chàng hướng về tuyệt đối. Nàng là cái bẫy của số phận chàng”. Mị Nương không đẹp, không sâu sắc và đầy những nguy hiểm, bất trắc. Chàng muốn tránh xa cái bẫy ấy, cái bẫy của công danh, tiền bạc và sự nhẫn nhịn. Bởi vậy mà kết thúc tác phẩm, Nguyễn Huy Thiệp không để cho Trương Chi chết vì bi kịch tình yêu. Với tính cách và tình cảm của chàng, chắc chắn chàng sẽ không chết vì Mị Nương. “Chàng từ trên thuyền bước xuống xoáy nước giữa sông. Ở trên trời, trên mặt đất, trên biển cả và các dòng sông đều có những hốc đen bí mật. Những xoáy nước trên sông là những hốc đen bí mật như thế”.

Có thể nói, so với nhân vật trong truyện cổ tích, nhân vật Trương Chi trong truyện ngắn được xây dựng với những nét vẽ hoàn chỉnh và đầy đặn hơn rất nhiều. Chàng không phải là một nhân vật chức năng, một chiều , đơn giản mà là một tính cách đa diện, nhiều chiều. Trong con người Trương Chi pha trộn cả cái tục tằn, thô lỗ và cái cao thượng, tài hoa. Đó là con người của đời thực với những suy nghĩ, lời nói, cử chỉ vô cùng sâu sắc. Xây dựng nhân vật Trương Chi mang một diện mạo hoàn toàn khác chính là một sự đổi mới hiệu quả của nhà văn.





2.3. Triết lí nhân sinh

a> Truyện cổ tích “ Trương Chi”

Thông qua hình tượng Trương Chi và mối tình Trương Chi – Mị Nương, tác giả dân gian trước hết muốn phản ánh số phận bi kịch của con người lao động bất hạnh. Đó là bi kịch của tình yêu trong xã hội đã phân chia giai cấp rõ rệt. So với các câu chuyện cổ tích khác, truyện cổ tích “ Trương Chi” có một kết thúc không thật có hậu: nhân vật chính phải chết ôm theo một mối tình tuyệt vọng. Điều này đã cho thấy sự thay đổi trong quan niệm của nhân dân ta về tình yêu và hạnh phúc. Trong nhiều truyện cổ tích thần kỳ giai đoạn trước như “ Tấm Cám”, “Lọ Lem”, “ Thạch Sanh”…, hầu hết nhân vật chính cuối cùng đều kết hôn và lên ngôi. Tác giả dân gian cho rằng những người nông dân nhỏ bé bất hạnh và thật thà cuối cùng sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi lấy công chúa hoặc hoàng tử. Nó thể hiện mơ ước đổi đời của nhân dân lao động. Ở tác phẩm này lại khác. Dường như tác giả dân gian đã có cái nhìn thực tế hơn khi đưa ra một kết thúc đầy bi kịch - tình yêu không thành.

Bên cạnh việc phản ánh bi kịch tình yêu giàu nghèo, thông qua tiếng hát Trương Chi và tình yêu của chàng, tác giả dân gian còn ca ngợi tài năng, tâm hồn của nhân dân lao động. Trương Chi là biểu tượng đẹp về người lao động nghèo khó nhưng có tài, chân thành và đa cảm. Chính điều này đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn cho tác phẩm.



b> Truyện ngắn “ Trương Chi”

Qua truyện ngắn “ Trương Chi”, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ra một quan niệm nhân sinh phản cổ tích. Bằng những chi tiết trần trụi đến nghiệt ngã, chua xót, Nguyễn Huy Thiệp đã biến cái lý tưởng thành cái phàm tục và hóa giải niềm tin thơ ngây , dễ dãi vào hiện thực của bạn đọc. Trương Chi không đẹp như truyện cổ tích mà là một Trương Chi tục tằn, thô lỗ, tài năng cũng có giới hạn mà nhất là không dành cho Mị Nương một tình yêu tuyệt đối như truyện cổ tích. Mị Nương cũng vậy, nàng không yêu thương, đồng cảm với tiếng hát của Trương Chi mà nàng chỉ là đấng bề trên có quyền ra lệnh, sai bảo chàng. Nguyễn Huy Thiệp không phản ánh bi kịch tình yêu mà ông ngầm đưa ra một triết lí, một quan niệm về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Trương Chi là một nghệ sĩ cô độc. Chàng cô độc vì thiếu người tri âm, thiếu người đồng cảm và sẻ chia. Đối với nghệ thuật, Trương Chi là người nghệ sĩ rất có trách nhiệm và rất có ý thức. Mị Nương và đám hoạn quan chính là đại diện cho quan điểm đại chúng hóa nghệ thuật. Họ đưa ra những đơn đặt hàng cho nghệ thuật, bắt nghệ thuật phải phục vụ cho những chủ trương và đường lối cứng nhắc. Khi phải tuân theo sự chỉ đạo của đám đông, Trương Chi trở nên vô cùng bi đát và lố bịch, lời hát của chàng “ chối tai” và “ thối hoắc”. Chàng đang phải biểu diễn một thứ nghệ thuật phi cá tính, không xuất phát từ trái tim người nghệ sĩ. Thông qua hình tượng Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp đã đề cao cái tôi của người nghệ sĩ đồng thời khẳng định mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là sự kết tinh của tài năng và tình cảm chân thành của người nghệ sĩ. Đó là một triết lí nghệ thuật vô cùng sâu sắc.































3. Nghệ thuật



Truyện cổ tích “ Trương Chi” và truyện ngắn “ Trương Chi” đều là hai tác phẩm tự sự nhưng do ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau lại thuộc hai bộ phận văn học khác nhau nên mỗi tác phẩm mang một đặc trưng riêng. Những đặc trưng và khác biệt đó được thể hiện không chỉ ở phương diện nội dung mà còn ở cả hình thức nghệ thuật. Nét riêng về nội dung chỉ phản ánh sự khác biệt trong quan niệm nhân sinh hoặc phạm vi phản ánh của hiện thực nhưng sự khác biệt về nghệ thuật lại phản ánh rõ sự khác biệt về tư duy nghệ thuật, những phạm trù mang tính thời đại. Sự khác biệt này được thể hiện trên những phương diện sau:

3.1. Thời gian nghệ thuật

Trong một tác phẩm tự sự, thời gian nghệ thuật chính là yếu tố thể hiện cách nhận thức và phản ánh hiện thực của tác giả. Đó là thời gian hiện tại hay thời gian quá khứ, thời gian tuyến tính hay thời gian đảo ngược. Việc lựa chọn kiểu thời gian trần thuật nào sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào dụng ý nghệ thuật riêng của nhà văn.

Truyện cổ tích “ Trương Chi” được trần thuật theo kiểu thời gian tuyến tính, theo trật tự diễn biến trước sau của sự kiện. Lựa chọn thời gian trần thuật này, câu chuyện sẽ được kể theo sự vận động bên ngoài, xuôi chiều thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Mở đầu câu chuyện, tác giả giới thiệu nguồn gốc xuất thân của hai nhân vật chính, sau đó là cuộc gặp gỡ giữa họ , kết thúc là bi kịch tình yêu và sự hóa giải. Lựa chọn kiểu thời gian tuyến tính này, tác giả dễ dàng phản ánh trọn vẹn số phận nhân vật để người đọc có một hình dung cụ thể hơn về diễn biến câu chuyện. Đồng thời cách kể theo trình tự trước sau sẽ phù hợp hơn với phương thức truyền miệng, khiến người đọc dễ thuộc, dễ nhớ, dễ tóm tắt. Nó cũng phản ánh kiểu nhận thức hiện thực thiên về nắm bắt sự kiện của tác giả dân gian.

Từ văn học dân gian đến văn học viết, nhất là văn học viết thời đương đại, tư duy nghệ thuật của nhà văn đã có nhiều thay đổi. Thay bằng kiểu thời gian trần thuật truyền thống, các tác giả thường tìm đến nhiều cách khác nhau để đảo ngược thời gian nhằm thâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật. Ở truyện ngắn “ Trương Chi”, thời gian trần thuật đã bị đảo ngược. Bắt đầu là thời gian hiện tại với cảnh ngộ cô độc của Trương Chi trên sông nước, sau đó bằng phương thức hồi cố, nhân

vật nhớ lại việc gặp Mị Nương để rồi câu chuyện lại trở về hiện tại, “ Trương Chi trèo thuyển ra giữa tim sông. Chàng lại nói: “ Cứt”…”. Để câu chuyện trung tâm tái hiện lại qua hồi tưởng của nhân vật là cách để nhà văn thâm nhập một cách tự nhiên nhất vào nội tâm nhân vật. Quan điểm đánh giá về hiện thực trước hết là quan điểm của nhân vật – người trong cuộc. Chính vì thế mà câu chuyện cũng trở nên hấp dẫn và lôi cuốn hơn.





3.2. Ngôn ngữ trần thuật

“ Văn học là nghệ thuật ngôn từ” – chân lý ấy đã khẳng định vị trí vô cùng quan trọng của ngôn từ đối với thành công của mỗi tác phẩm văn học. Việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào cũng chính là nhân tố khiến cho nhà văn này khác với nhà văn khác, thời đại văn học này khác thời đại văn học kia.

Trong truyện cổ tích “ Trương Chi”, ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ của nhân dân lao động nên mang tính bình dị, nôm na, dễ hiểu.Ở đây không có những từ ngữ Hán Việt, những điển tích , điển cố như văn học Trung đại. Đặc biệt tác giả thường sử dụng lối nói giàu hình ảnh nhằm nhấn mạnh mức độ tận cùng của các đặc điểm, tính chất. Chẳng hạn, khi miêu tả nhan sắc của Mị Nương, tác giả thường dùng cách nói: “ nhan sắc tuyệt trần” hay khi nói về Trương Chi thì là “ người thì thật xấu hát thì thật hay”. Lối nói này sẽ gây ấn tượng mạnh với bạn đọc khiến bạn đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Đặc biệt vì nhân vật trung tâm của câu chuyện chính là nhân vật được tác giả dân gian bênh vực nên ngôn ngữ trần thuật được tác giả sử dụng cũng mang sắc thái trung hòa hoặc thể hiện tấm lòng trân trọng, cảm thông.

Khác với truyện cổ tích, ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là ngôn ngữ hiện đại, sống động , giàu sức gợi, mang đậm phong cách nghệ thuật nhà văn. Bên cạnh lớp từ chuẩn mực, sách vở, tác giả còn sử dụng với tần xuất rất cao lớp ngôn ngữ thông tục của đời sống. Đó là kiểu “ phản cổ tích”, gây hấn với truyền thống và mang tinh thần giải thiêng. Có thể kể ra một số câu văn kiểu này là: “ Chàng trật quần đái vọt xuống sông”. “ Chàng nói : Cứt”. “ Giờ đây gặp Mị Nương rồi chàng hiểu rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng mà cả bầy đàn, tất cả đều thối hoắc”. Những câu nói tục lại trở thành từ cửa miệng rất quen thuộc của nhân vật chính. Việc sử dụng dày đặc lớp ngôn từ này đã giúp Nguyễn Huy Thiệp tạo ra một không khí đời thường đến trần trụi, nhằm giải thiêng một huyền thoại đã in đậm trong tâm trí nhân loại suốt thời gian dài. Ngay cả những bài thơ, những lời hát mà tác giả đưa vào truyện ngắn cũng vậy, chúng không vần vè, không lục bát mà là kiểu thơ tự do, trúc trắc. Câu văn được tác giả sử dụng thường là những câu ngắn gọn, lược bỏ tối đa sắc thái cảm xúc. Lựa chọn ngôn ngữ trần thuật này chính là một sự thể nghiệm và sự thể hiện cho một bản lĩnh nghệ thuật rất mạnh mẽ và độc đáo của nhà văn.

3.3. Người trần thuật

Trong tác phẩm tự sự, người trần thuật đóng vai trò là người kể chuyện, là người phát ngôn trong tác phẩm, qua đó thế giới hiện thực được tái hiện

Trong truyện cổ tích “ Trương Chi” xuất hiện kiểu người trần thuật đáng tin cậy với điểm nhìn toàn tri. Đó là kiểu người trần thuật thấu hết mọi lẽ, những điều anh ta nói là phù hợp chuẩn mực của tác phẩm. Tác giả dân gian nắm chắc mọi diễn biến trong cuộc đời nhân vật, nói hộ suy nghĩ, tính cách, tình cảm của nhân vật. Những điều tác giả nói về Trương Chi và Mị Nương là hoàn toàn phù hợp và trùng khít với triết lí nhân sinh mà tác phẩm đưa ra. Thái độ cũng như cách đánh giá của tác giả cũng được bộc lộ rõ ràng qua cách kể chuyện và ngôn ngữ kể chuyện. Thái độ trân trọng ca ngợi tài năng của Trương Chi được thể hiện qua các câu văn: “ Tiếng hát rất hay khiến cho Mị Nương ở trong lầu xao xuyến, say mê.” Người đọc cũng dễ dàng nhận ra thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nhân vật thông qua những câu văn như: “ Chàng tủi cho thân phận nghèo hèn của mình, buồn chán không thiết làm ăn gì nữa.”. Hay “ Tức thì tiếng hát năm xưa văng vẳng như than như trách”. Chính nhờ cách trần thuật đó mà hình tượng Trương Chi đã được khúc xạ rõ nét qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Cũng nhờ đó mà người đọc dễ dàng hơn trong việc khám phá giá trị nội dung cũng như quan niệm nhân sinh của tác giả.

Trong truyện ngắn “ Trương Chi” , người trần thuật ở đây vẫn chính là tác giả nhưng đó là kiểu người kể chuyện không đáng tin cậy. Người kể chuyện thường đánh lừa độc giả bằng cách đưa ra các sự kiện, lời kể mâu thuẫn, không ăn khớp với nhau một cách lộ liễu. Người kể chuyện không phải là người hướng dẫn người đọc khám phá triết lý nhân sinh của tác phẩm một cách nhanh nhất và chuẩn nhất. Ngược lại, anh ta thường tỏ ra không hiểu biết hết về đối tượng. Người kể chuyện cũng đứng ở bên ngoài , khôn nắm bắt hết được mọi suy nghĩ và mọi cung bậc tình cảm của nhân vật. Khi xây dựng nhân vật Trương Chi, tác giả tạo ra sự đối lập rõ ràng. Trương Chi rất tài giỏi, hát hay nhưng trong ngôn ngữ nói năng lại cục cằn, thô lỗ. Chính vì thế mà ông dễ đánh lừa người đọc, mạch tư duy của người đọc dễ bị phân tán. Ta sẽ nghi hoặc và không biết Nguyễn Huy Thiệp bênh vực nhân vật hay phê phán nhân vật. Cùng với cách kể mâu thuẫn, nhà văn còn hay sử dụng cách nói nước đôi, không rõ ràng, mập mờ trong những câu trả lời của mình. Khi phải đưa ra cách kết thúc cho câu chuyện thì Nguyễn Huy Thiệp lại nói : “ Còn tôi , tôi có cách kết thúc khác. Đây là bí mật của riêng tôi”. Chính cách trả lời nước đôi này khiến câu chuyện trở nên bí ẩn với người đọc. Ta có thể tin mà cũng có thể không tin tác giả - người kể chuyện. Cùng với sự chọn lựa kiểu người kể chuyện không đáng tin cậy, Nguyễn Huy Thiệp cũng tạo ra giọng điệu trần thuật mang tính chất đa thanh, phức điệu. Có khi đó là giọng đồng cảm với nhân vật có khi dó là giọng giễu nhại. Giong giễu nhại này rất phổ biến trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Giễu nhại là biến thành trò cười tất cả những gì là nghiêm trang nhất bằng cách nói mô phỏng nó, tô đậm tính chất lố bịch , vô nghĩa hoặc lỗi thời của nó. Ở đây, giọng giễu nhại xuất hiện khi tác giả bài hát đông người của Trương Chi: “ Chưa bao giờ chàng hát một bài hát thô bỉ như thế này. Bài hát toàn “ ấy a” với lại “ huầy dô””. Nguyễn Huy Thiệp cũng nhại lại lối kết thúc có hậu của câu chuyện bằng cách nói: “ Tôi – người viết truyện ngắn này – căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy. Qủa thực cái kết thúc truyền thống ấy là tuyệt diệu và cảm động, trí tuệ dân gian đã nhọc lòng làm hết sức mình”. Nguyễn Huy Thiệp không đồng tình với cách kết thúc dễ dãi, đơn giản của truyenj cổ dân gian. Đó là cách lật ngược lịch sử của bút pháp phản cổ tích rất độc đáo ở ông.

Như vậy, việc lựa chọn kiểu người trần thuật và giọng điệu trần thuật ở mỗi tác phẩm đã cho thấy bước phát triển nhanh chóng của văn học Việt Nam từ thời trung đại sang thời hiện đại. Truyện cổ tích “ Trương Chi” là tiêu biểu cho kiểu tự sự truyền thống, đậm tính dân gian còn truyện ngắn “ Trương Chi” đã cho thấy bước tiến tiệm cận của văn học Việt Nam với cảm quan hậu hiện đại của văn học thế giới.



3.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trong bất cứ tác phẩm tự sự nào, nhân vật luôn giữ một vai trò và vị trí vô cùng quan trọng bởi lẽ đó chính là phương tiện chuyên chở tư tưởng , tình cảm của nhà văn. Cũng chính vì thế mà các tác giả luôn dụng công trong việc xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là một nhân tố quan trọng góp phần thể hiện đặc trưng riêng trong phong cách nhà văn, sự khác nhau trong bút pháp của các giai đoạn văn học, các bộ phận văn học.

Nói riêng về hai tác phẩm trên, cách xây dựng nhân vật của mỗi tác phẩm đã thể hiện những khác biệt rất rõ nét trong cách viết. Ở truyện cổ tích “ Trương Chi”, nhân vật được miêu tả chủ yếu thông qua ngoại hình, hành động và sự miêu tả đó cũng chỉ thiên về khái quát những đặc tính nổi bật mà không đi vào chi tiết, cụ thể. Tác giả dân gian chỉ giới thiệu Mị Nương nhan sắc tuyệt trần nhưng ta không có được hình dung cụ thể về vẻ đẹp ấy. Hay như Trương Chi được giới thiệu rằng : “ Người thì thật xấu, hát thì thật hay” nhưng cái xấu và cái hay đó không được tác giả dân gian cụ thể hóa bằng bất cứ một biểu thức miêu tả nào. Nhân vật của văn học dân gian phần lớn là đơn giản, không có đời sống tâm lý và tính cách rõ rệt. Đó là kiểu nhân vật chức năng, được xây dựng nhằm thực hiện một chức năng nào đó. Ở đây, Trương Chi là là một phương tiện thể hiện số phận dầy bi kịch đồng thời thể hiện tài năng, tâm hồn của những người dân lao động nghèo khổ. Vì vậy mà nhân vật hiện lên với sự thống nhất tính cách từ đầu đến cuối tác phẩm, không có sự vận động, biến đổi nào.

So với truyện cổ tích “ trương Chi”, truyện ngắn “Trương Chi” có sự dụng công hơn trong việc xây dựng nhân vật. Trương Chi hiện lên là một con người thật sự, chân thật và sinh động. Nhà văn tập trung hơn vào đời sống tâm lý nhân vật. Qua những lời nói của Trương Chi, ta nhận ra một Trương Chi khinh bạc, có phần hơi tục tằn. Qua dòng độc thoại nội tâm cuả nhân vật, ta nhận ra một Trương Chi cô độc tột cùng nhưng cũng ý thức sâu sắc về nhân phẩm, tài năng của bản thân. Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp rõ ràng sinh động hơn, hành động và suy nghĩ trên từng trang viết. Mọi hình dung của người đọc về nhân vật cũng trở nên toàn vẹn hơn rất nhiều. Không chỉ có thế, Trương Chi xuất hiện như một tính cách phức tạp, đa diện, nhiều chiều. Đó là con người của đời thực, tức là con người với sự tổng hòa xấu – tốt. Bên cạnh một Trương Chi hát hay, ý thức sâu sắc về nghệ thuật và tài năng là một Trương Chi cục cằn, đầy bất mãn với cuộc đời. Bên cạnh một Trương Chi cô độc, khao khát tình yêu là một Trương Chi cứng cỏi, mạnh mẽ, coi Mị Nương chỉ là một cái bẫy của đời chàng. Đối với Nguyễn Huy Thiệp, việc đưa vào tác phẩm những chi tiết về một Trương Chi tục tằn , thô lỗ, trái với cổ tích chính là một cách để ông trả Trương Chi về với đời thưucj như nó vốn có. Nhờ đó mà nhân vật của ông gần gũi hơn, đáng tin hơn và lôi cuốn bạn đọc hơn.

Như vậy qua việc khảo sát so sánh hai tác phẩm trên các phương diện như thời gian trần thuật, người trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ta có thể thấy rõ hơn những khác biệt trong bút pháp của hai thể loại, hai bộ phận văn học và hai kiểu phong cách tác giả. Việc làm này không nhằm đặt hai tác phẩm lên bàn cân để định giá xem tác phẩm nào hay hơn mà chỉ nhằm định hình được bước phát triển của nghệ thuật tự sự qua thời gian.











































C. PHẦN KẾT LUẬN



1. Ở những phần trên, người viết đã trình bày một cách hệ thống và chi tiết quá trình đối chiếu, so sánh giữa hai tác phẩm: truyện cổ tích “ Trương Chi” và truyện ngắn” Trương Chi” với những nét tương đồng cũng như những nét khác biệt. Có thể nói những điểm giống nhau giữa hai tác phẩm là một minh chứng tiêu biểu cho thấy những ảnh hưởng và tác động qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết. Về cơ bản, văn học dân gian vẫn là mảnh đất màu mỡ cung cấp cho văn học viết đề tài, chủ đề, ngôn ngữ. Sự ảnh hưởng này chủ yếu diễn ra trong giai đoạn văn học viết mới hình thành. Tuy nhiên, với truyện ngắn “ Trương Chi”, Nguyễn Huy Thiệp đã chứng minh rằng, văn học dân gian vẫn có ý nghĩa thiết thực , ảnh hưởng tới văn học viết ở mọi thời đại. Càng ngày sự ảnh hưởng ấy càng đi vào chiều sâu hơn, thậm chí trở thành sự đối thoại. Như phần trên đã nói, nếu văn học dân gian không có truyện cổ tích “ Trương Chi” thì nền văn xuôi đương đại Việt Nam sẽ không có truyện ngắn “ Trương Chi” của Nguyễn Huy Thiệp, nền âm nhạc nước nhà sẽ không có ca khúc “ Trương Chi” của cố nhạc sĩ Văn Cao. Tiếng nói của dân gian luôn luôn là dòng nước ngầm chảy trong văn mạch dân tộc. Sự thành công của truyện ngắn “Trương Chi” cũng góp phần khẳng định thêm chân lý : mọi sự đổi mới của văn học đều phải có căn rễ chắc chắn từ truyền thống mới có thể bền vững theo thời gian.

Như vậy việc so sánh để chỉ ra điểm giống nhau giữa hai tác phẩm vốn rất xa nhau ấy ở một mức độ nào đấy cũng thể hiện tính thực tiễn của nó. Có thể coi đây là một ví dụ góp thêm vào rất nhiều những dẫn chứng khác làm rõ thêm mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian.

2. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, giữa hai tác phẩm trên cũng tồn tại rất nhiều nét khác biệt. Sự khác biệt này không nhằm tạo nên một ranh giới phân chia hơn – kém , hay – dở mà nó giúp ta nhìn rõ hơn bước đi của văn học dân tộc. Từ truyện cổ tích dân gian đến truyện ngắn đương đại, văn học dân tộc đã bước nhưungx bước đi dài. Sự khác nhau, sự vênh lệch này bắt nguồn từ sự khác nhau trong tư duy nghệ thuật cũng như trong quan niệm nhân sinh của nhà văn. Văn học hiện đại đã đưa ra những quan niệm rất mới về con người. Văn học dân gian nhận thức con người như một thực thể tĩnh, không vận động và mang tính chất nguyên phiến, một chiều.Văn học hiện đại lại nhìn con người trong sự vận động phức tạp, con người là sự kết hợp giữa phần con và phần người, phần tốt và phần xấu. Đây là một quan niệm mới mẻ đã được thể hiện không chỉ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mà đã thể hiện ở hầu hết sáng tác của các tác giả hiện đại như Nguyễn Minh Châu, Tô Hoài, Nguyễn Khải…vv Đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa khiến nhân vật Trương Chi trong truyện ngắn khác hẳn với nhân vật Trương Chi trong truyện cổ tích .

Về phương diện nghệ thuật, từ văn học dân gian đến văn học viết đương đại, văn học dân tộc đã có bước phát triển nhanh chóng. Nghệ thuật trần thuật của văn học hiện đại đã phá vỡ dần mô hình truyền thống để đổi mới. Bạn đọc và nhà văn đã có một khoảng cách gần hơn, thậm chí nhà văn cũng có lúc chỉ như một người đọc, không nắm giữ mọi hiểu biết về nhân vật của anh ta. Nhờ đó quá trình đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận của người đọc sẽ trở nên hiệu quả hơn.

Trên đây là một vài lí giải của tôi về nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau và khác nhau giữa hai tác phẩm. Trong phạm vi một chuyên đề, tôi mới chỉ triển khai quá trình so sánh trên cấp độ tác phẩm. Hy vọng đề tài so sánh này sẽ được triển khai rộng hơn, hệ thống hơn trong một công trình lớn hơn.



























































PHỤ LỤC



1. Truyện cổ tích “ Trương Chi”



Ngày xưa, có một ông quan thừa tướng sinh được người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Nàng ở cấm cung trong ngôi lầu cạnh bờ sông.

Bấy giờ có một chàng trai con nhà thuyền chài tên là Trương Chi, ngày ngày đến thả lưới kiếm ăn trên khúc sông đó. Chàng ta thường buông lưới, vừa hát. Tiếng hát rất hay, khiến cho Mỵ Nương ở trong lầu xao xuyến say mê.

Một dạo, Trương Chi đi đánh cá ở khúc sông khác. Không được nghe tiếng hát, Mỵ Nương sinh ra sầu não. Nàng bồn chồn trông đợi. Tiếng hát vẫn vắng lặng và nàng bắt đầu ốm.

Thừa tướng vội cho mời các lương y đến xem mạch, bốc thuốc. Thuốc uống đã nhiều mà bệnh Mỵ Nương vẫn không suy chuyển. Sau thừa tướng hỏi dò những người hầu hạ Mỵ Nương, mới biết là con mình ốm tương tư. Các lương y khuyên thừa tướng cho gọi anh lái đò đến.

Trương Chi được mời đến thăm Mỵ Nương. Chàng vừa ngồi sắc thuốc vừa hát cho Mị Nương nghe. Lại được nghe tiếng hát, quả nhiên Mỵ Nương dần dần khỏi bệnh. Nhưng đến khi nhìn thấy mặt Trương Chi thì nàng tỏ ý lạnh nhạt và không còn mê tiếng hát của chàng như trước kia nữa.

Cũng từ đấy Trương Chi thầm yêu Mỵ Nương. Chàng tủi cho thân phận nghèo hèn của mình, buồn chán không thiết gì làm ăn nữa. Rồi một hôm chàng hát:

Kiếp này đã dở dang nhau

Thì xin kiếp khác duyên sau lại lành



Hát xong chàng nhảy xuống sông tự vẫn. Đó là câu hát cuối cùng đời chàng

Trương Chi chết nhưng hồn của chàng nhập vào cây gỗ bạch đàn. Ít lâu sau có người vớt được cây gỗ , vô tình đem bán cho thừa tướng. Mua được cây gỗ quý, thừa tướng sai ngay thợ tiện thành một bộ chén trà.

Một hôm, Mỵ Nương cầm chén rót nước, thì lạ thay, hình ảnh người đánh cá chèo thuyền hiện lên chậm chậm xoay quanh trong lòng chén. Tức thì tiếng hát năm xưa cũng văng vẳng như than, như trách.

Mỵ Nương chạnh lòng nhớ lại mối tình đã qua. Một giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén và chiếc chén cũng tan ra thành nước.







2. Truyện ngắn “ Trương Chi” – Nguyễn Huy Thiệp

Ngày xưa có anh Trương Chi

người thì thậm xấu hát thì thậm hay

(Truyện cổ)



Trương Chi đứng ở đầu mũi thuyền. Chàng trật quần đái vọt xuống dòng sông. Phía xa kia là chân trời rực hồng ráng đỏ. Nhà nàng ở phía ấy. Sương xuống lạnh. Một nỗi buồn da diết choán ngợp lòng chàng. Chàng gác chèo và mặc kệ dòng sông cuốn con thuyền đi.



Chàng hát:

Nỗi buồn của ta ơi

Như cục đá đè nặng tim ta

Nào ai thấu

Phía xa kia là quê nhà

Tuổi trẻ mờ sương

Những ký ức mờ sương

Những ước mơ đâu cả rồi?

Những mơ ước của ta

Ta đã mơ rất say đắm

Mơ hoa lá, những bài ca,

Những tiếng đàn,

Những nụ cười, những đồng lúa chín,

Những lâu đài rực rỡ,

Ta đã mơ thấy nàng

Trong suốt và đỏ chói

Những mơ ước đâu cả rồi?

Những mơ ước của ta

Có ai về đó không?

Về quê nhà ta

Chào giúp một câu

Cho bớt nỗi đau

Chào giúp một câu

Cho bớt nỗi sầu

Những mơ ước đâu cả rồi?

Những ước mơ say đắm khôn nguôi

Nỗi buồn của ta ơi

Như cục đá đè trĩu tim ta

Ai thấu chăng tình ta?”



Tiếng hát vút cao. Đêm xuống. Bóng tối mù mịt Trương Chi rùng mình vì sự vắng lặng xung quanh. Không ai đáp lại chàng. Sự vắng lặng kinh hoàng. Chỉ có tiếng giun dế, tiếng ễnh ương, tiếng chó sủa. Trương Chi úp mặt vào hai lòng bàn tay chai sạn. Chàng khóc. Không có nước mắt. Chàng cắn vào ngón tay. Một đốt ngón tay đứt trong miệng chàng. Chàng nhổ mẩu ngón tay xuống Bông. Trời tối, không thấy máu. Chàng thò ngón tay xuống dòng nước xiết. Dòng nước mơn man khiến chàng dễ chịu. Chàng duỗi thân, ngả người vào lòng thuyền. Chàng nói:

- Cứt!

Nói xong chàng nhắm mắt lại. Bốn nghìn năm trước chàng đã mất ngủ thế này. Bốn nghìn năm trước chàng đã đau đớn thế này, chàng đã căm giận thế này.

Việc gặp Mỵ Nương xốc lại toàn bộ suy nghĩ của chàng. Trước kia, Trương Chi chỉ hình dung mơ hồ có những cuộc sống khác, lối sống khác. Chàng chỉ ngờ ngợ rằng cuộc đời chàng tẻ nhạt, nhàm chán. Rằng thân phận chàng chẳng ra gì. Rằng con thuyền này, những vật dụng này chẳng ra gì. Rằng thân xác chàng xấu xí, chẳng ra gì. Cả ngay tiếng hát của chàng cũng thế, vô nghĩa, chẳng ra gì. Tuy nhiên, việc tự khép kín, thói lười nhác an phận, thêm một chút kinh bạc nữa và những cố gắng không mỏi để kiếm miếng ăn khiến chàng giữ được bên ngoài vẻ thường. Không ai ngờ vực chàng. Không ai sợ hãi chàng. Chàng sống giữa bầy. Chàng cười nói. Chàng chịu đựng. Chàng mua bán. Chàng chấp nhận. Mọi ước lệ của thói đời lướt qua chàng không dấu vết. Chàng cũng lưởt qua nó, những ước lệ của thói đời ấy không dấu vết. Giờ đây, gặp Mỵ Nương rồi, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng, mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc.

- Cứt!

Trương Chi gầm lên khe khẽ. Những bức bối cồn cào lòng chàng.



Chàng hát:

Đêm nay là đêm nao

Này người tình ơi

Rồi nàng cũng thành một bà lão

lụ khụ, đáng kính và có đơn thôi!

Bây giờ nàng cứ cười đi

Ta đâu mêch lòng

Nàng còn trẻ tuổi.

Nàng hiểu làm sao

Những khao khát nực cười của ta

Ta vốc một nắm gió

Ném vào khoảng không kia

Nheo một bên mắt

Tay đút túi

Ta không khiến nàng bận tâm

Gió đi đâu

Dạt đến chân trời nào

Nàng biết quái gì?

Gió đi đâu?

Đến bao giờ thành bão?

Trên con thuyền này

Ta bắt quyết

Luyện phép một mình

Ai thấu lòng ta?

Nàng cứ cười đi

Và chớ có tin

Nàng có tin ai đâu

Thói của nàng là thế

Nàng được giáo dục như thế từ bé tí

Nàng chỉ tin ở bạo lực

Ta biết thừa

Ai thấu lòng ta

Những khát khao của ta

Những cuồng vọng của ta

Những tín ngưỡng của ta

Với con thuyền này

Ta chèo qua số phận

Ta chèo qua thời gian

Ta chèo một mình...”



Trương Chi không hát nữa. Chàng lại nói:

- Cứt!

Nói xong chàng nhỏm dậy. Chàng thấy đói.

Chàng phải kiếm ăn đã. Chàng lái thuyền vào bờ. ở hai ven bờ, suốt từ thượng nguồn đến tận hạ nguồn, chàng đã đặt mỗi bên một nghìn cái đó. Nhấc đó lên là có cái ăn. Đây là cá, là cua, là ếch nhái. Trương chi bắt cá ném vào lòng thuyền. Chàng dùng hai hòn đá nhen lửa nướng cá. Chàng ăn cá nhưng được vài miếng chàng lại nhổ đi.

Chàng lại nói:

- Cứt!

Hình ảnh Mỵ Nương hiện ra. Trương Chi thở dài. Nàng ngả người trên nệm. Nàng lấy những ngón tay thon thả gỡ tóc. Nàng bảo chàng:

- Hát đi!

Viên quan trưởng bảo chàng:

- Hát ca ngợi công danh đi!

Trương Chi tức nghẹn họng. Chàng biết, hát về điều ấy thật là trò cứt. Mỵ Nương mỉm cười khuyến khích chàng. Chàng đã mềm lòng trước nụ cười ấy. Chàng khò khè trong cổ. Chưa bao giờ chàng hát một bài hát thô bỉ thế này. Bài hát chỉ oàn “ấy a” với lại “huầy dô”. Bài hát đông người.

Mỵ Nương bảo:

- Hay lắm!

Bọn hoạn quan đứng quanh cười ré lên:

- Hát như cứt!

Mỵ Nương tỏ vẻ thương xót:

- Hát về tình yêu đi!

Viên quan trưởng ngăn lại:

- Đừng! Nên hát về sự nhẫn nhục!

Mỵ Nương làm một cử chỉ khuyến khích. Trong cuộc đời bạc bẽo của chàng, Trương Chi chưa được ai khuyến khích bao giờ.



Chàng hát, mắt hướng về viên quan trưởng:

“Sự nhẫn nhục bắt đầu từ đâu?

Ngày xưa, ta tưởng nó bắt đầu từ bản tính ta

Từ đầu ngón chân, ngón tay ta,

Hóa ra không phải

Sự nhẫn nhục bắt đầu từ mày!”



Viên quan trưởng ngăn lại:

- Đừng hát!

Trương Chi luống cuống. Chàng thấy khổ quá. Giữa sông nước có ai chỉ bảo chàng đâu? Sự nhẫn nhục, thói hãnh tiến, lòng tham, tính thiện...Tất cả như nhau hết, vụn vặt và vô nghĩa lý. Chàng chỉ có một mình. Ngày cũng một mình. Đêm cũng một mình. Mưa nắng như nhau hết.

Bọn hoạn quan cười ré lên:

- Hát như cứt!

Mỵ Nương cười, Trương Chi rất thích giọng nàng cười. Tiếng cười rung trong ngực chàng.

Viên quan trưởng bảo:

- Hát ca ngợi tiền bạc đi!

Bọn hoạn quan reo lên.

Mỵ Nương làm một cử chỉ mơn trớn. Chẳng có ai nhận ra cử chỉ ấy. Chỉ có riêng chàng biết. Trương Chi luống cuống, lại một bài hát toàn “ấy a” với lại “huầy dô”. Có chỗ chàng lại bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác và tiếng dê kêu nữa. Bài hát đông người...

Bọn hoạn quan cười ré lên:

- Hát như cứt!

Mị Nương cười rũ rượi. Chàng biết, sau tiếng cười độ lượng kia nàng sẽ mím môi lại. Nàng có tật thế.

Trương Chi rùng mình. Chàng thấy lo sợ cho chàng. Chàng biết rõ mình. Chàng có thể chịu được đói khổ, nhọc nhằn, thói nhẫn tâm, sự đểu cáng. Thậm chí cả sự hạ nhục của bọn người nông nổi và thiển cận nữa, không sao. Chàng chỉ sợ khi chính bản thân chàng lâm vào tinh thế phải tự hạ nhục bản tính mình, thế là mất hết, không còn tiếng hát, không còn Trương Chi. Trương Chi ngó quanh. Bọn hoạn quan, những gã đồng cô, những tên hề lùn, bọn bói toán, tướng số, lang băm...xúm xít, ép chặt lấy chàng. Trương Chi sợ hãi. Chàng mong nhìn thấy một người đánh cá, chỉ đánh cá mương thôi cũng được, chẳng cần đến loại người đánh cá kình. Chàng sẽ vững tâm.

Mỵ Nương giúp chàng. Nàng bảo:

- Hát về tình yêu đi!

Trương Chi nhắm mắt lại. Chàng thấy bồng bềnh như đứng trên thuyền. Đến lúc này, chàng biết chàng phải cất giọng tự hát cho mình, bởi không chàng sẽ mất hết, mất cả cuộc đời. Chỉ bằng tình yêu của chàng, tình yêu chân thực và nồng cháy của chàng mới hòng cứu vớt được. Không phải Mỵ Nương, không chỉ là Mỵ Nương. Dù cho Mỵ Nương có là một con phượng hoàng kiêu hãnh hoặc một con nhện xấu xí cũng vậy. Với chàng lúc này tất cả đều như nhau. Tình yêu của chàng hướng về tuyệt đối Nàng là cái bẫy của số phận chàng.

Chàng hát:.

“Tình yêu, bài ca mà Trương Chi hát

Cất lên từ trái tim bị thương tổn

Ngọn cờ nàng phất trên ta là tình yêu

Và tiếng trống trận là nhịp tim ta

Kẻ thù của ta

Chúng sẽ bôi nhọ tên ta

Còn ta

Ta sẽ vung ra trước chúng

Lưỡi mác của tình yêu

Xuyên qua tim ta

Và qua tim nàng

Này người tình ơi

Thực ra, nàng còn rỗng tuếch và tẻ nhạt

Tâm hồn nàng có những con rắn hoài nghi

trơn tuột nằm phục

Nàng gian lận trong bài bạc

Nàng đánh giá điều thiện như cách nàng

đánh giá đồ trang sức và tài sản

Nàng ngờ vực ngọn gió

Và gieo gặt nhờ kích thích thói xấu

Mồi thính của nàng

Là quyền lợi và danh dự hão huyền

Ta đâu cần một bữa cơm

Đâu cần một manh áo

Cơm ta thiếu gì?

áo ta cần chi?

Ta ở trên đất đai của tổ tiên ta

Và quăng lưới trên dòng sông của tổ tiên ta

Những khao khát của ta

Hướng về tuyệt đối...

Ta là Trương Chi

Ta ca ngợi tình yêu

Nở từ hạt thiện

Và bông hoa của tự nhiên

Là sự chân thực lạnh buốt...”



Tiếng hát Trương Chi cao vút. Xung quanh im bặt. Nhừng giọt nước mắt long lanh trên mắt Mỵ Nương. Nàng chưa từng được nghe ai hát thế này. bọn hoạn quan, những gã đồng cô, những tên hề lùn, bọn bói toán, tướng số, lang băm...đứng dạt cả ra. Trương Chi vẫn hát, đôi chân của chàng như bốc khỏi đất, chàng đang bay lên.

Chàng hát:

“Hãy ca hát tình yêu

Hỡi những trái tim lãnh cảm

Những trái tim sắt đá

Bạo lực chỉ gây oán thù

Nòi giống phải trả giá

Ta là Trương Chi

Ta hát cho tình yêu

Vẻ đẹp tự nhiên

Sự chân thực lạnh buốt...”



Chàng hát:

“Ta là Trương Chi

Ta hát cho tình yêu

Đây là thanh danh ta

Và thanh danh nàng...”



Chàng hát:



“Ta là Trương Chi

Ta hát cho tình yêu

Tình yêu không xúc phạm được

Bởi nó kiêu hãnh và tinh tế...”



Chàng hát:

“Ta là Trương Chi

Ta hát cho tình yêu

Tình yêu cần hy sinh

Bởi nó không khoan nhượng...”



Chàng hát:

“Sự ngu ngốc hay khôn ngoan với tình yêu đều như nhau

Sự ràng buộc hay không ràng buộc cũng thế...”



Chàng hát:

Tình yêu không mất đi và không sinh ra

Tình yêu tuyệt đối...”



Chàng hát:

“Ta là Trương Chi

Bài ca ta cât lên từ trái tim bị thương tôn

Này người tình ơi

Xin đừng vì sự thương tổn trái tim ta mà

tổn thương trái tim nàng

Chúng ta đi qua cuộc đời bạc bẽo này, giả dối này

Nàng cứ sống đi rồi sẽ hiểu

Những chân trời nào nàng sẽ qua...

Và những gì làm trái tim ta đau

Ghi dấu trên thanh danh ta...

Và trên cả thanh danh nàng...

Có một thứ tình yêu bất tử...”



Trương Chi im bặt. Chàng cũng không biết chàng dã bay tới bến sông từ khi nào nữa. Hình ảnh Mỵ Nương biến mất đâu rồi, trước mặt chàng là sông nước trắng xóa một màu, trời mây trắng xóa một màu.

Trương Chi chèo thuyền ra giữa tim sông.

Chàng lại nói:

- Cứt!

Chàng từ trên thuyền bước xuống xoáy nước giữa sông. ở trên trời, trên mặt đất, trên biển cả và các dòng sông đều có những hốc đen bí mật. Những xoáy nước trên sông là những hốc đen như thế.





*



Trong truyện cổ, người ta kể rằng khi hát xong câu hát cuối cùng:

“Kiếp này đã dở dang nhau

Thì xin kiếp khác duyên sau lại lành “.

Trương Chi đã nhảy xuống sông tự trầm. Hồn chàng nhập vào thân cây bạch đàn. Người ta lấy gỗ bạch đàn tiện thành bộ chén tiến vua. Mỵ Nương rót nước, nhìn thấy hình ảnh Trương Chi trong chén. Giọt nước mắt nàng lăn xuống, cái chén bạch đàn vỡ tan.

Tôi - người viết truyện ngắn này - căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy. Quả thực, cái kết thúc ấy là tuyệt diệu và cảm động, trí tuệ dân gian đã nhọc lòng làm hết sức mình. Còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đấy là bí mật của riêng tôi. Tôi biết giây phút rốt đời Trương Chi cũng sẽ văng tục. Nhưng đấy không phải là lỗi ở chàng.

Mỵ Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc.

Điều ấy vừa tàn nhẫn, vừa phi lý.

Lẽ đời là thế.





























MỤC LỤC

Trang

A. PHẦN MỞ ĐẦU



I. Lí do chọn đề tài 1



II. Lịch sử vấn đề 2



1.Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích “ Trương Chi”



2. Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn “ Trương Chi”



3. Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích “ Trương Chi” và truyện ngắn “Trương Chi” trong thế đối sánh



III. Đóng góp của đề tài 5



IV. Giới hạn và phương pháp nghiên cứu



B. PHẦN NỘI DUNG



Chương I : Những nét tương đồng 6



Chương II: Những nét khác biệt



1. Cốt truyện 9



2. Nhân vật và triết lý nhân sinh 11



3.Nghệ thuật 19



C. PHẦN KẾT LUẬN 24















THƯ MỤC THAM KHẢO



1. Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học dân gian ( Chu Xuân Diên )

2. Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp ( Phạm Xuân Nguyên)

3. Thi pháp văn học dân gian ( Lê Trường Phát)

4. Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam ( Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế)

5. Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

6. “ Góp thêm nhận định về cuốn “ Giảng văn” trường Đại học sư phạm Tạp Chí văn học số 5 / 1965

7. “ Bàn thêm về cuốn “Giảng văn” của trường Đại học sư phạm Hà Nội” (Tạp chí văn học – số 4 / 1965)

8. “ Mấy ý kiến về bài giảng văn Trương Chi” ( Tạp chí văn học – số 10 / 1965)

9. Luận văn “ Nguyễn Huy Thiệp từ ý thức tự vấn đến những cách tân nghệ thuật quan trọng” ( Hà Nội, 2008)

10. Luận văn “ Từ cảm quan trào lộng đến ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” ( Hà Nội, 2007)

11. Luận văn “ Tiếng cười trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp” ( Hà Nội , 2005)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét